MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn An ninh con ngƣời, theo Chƣơng trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP, năm 1994) đƣợc đánh giá qua hai tiêu chí: Một là, an toàn không bị đe dọa bởi đói nghèo, bệnh tật và sự áp bức; hai là, đƣợc bảo vệ khi gặp những rủi ro bất thƣờng trong cuộc sống. Tạp chí Cộng sản điện tử - Đại hội XII của Đảng ta cũng xác định: “Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trƣờng hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Là một thành viên của xã hội, mỗi ngƣời dân có quyền đƣợc bảo đảm bảo an ninh để thực hiện và bảo đảm các quyền không thể thiếu về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự, và cả an ninh lãnh thổ.
An ninh con ngƣời không tách rời mà gắn liền với phát triển con ngƣời. Hai khái niệm này có cùng cách tiếp cận đều lấy con ngƣời làm trung tâm, cá nhân con ngƣời làm đối tƣợng quy chiếu, cùng lấy con ngƣời làm mục tiêu (chứ không phải phƣơng tiện), có tính chất đa chiều cạnh, bổ sung cho nhau. An ninh và phát triển đều có nhiều cấp độ tùy thuộc vào chủ thể cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc tế. Tính chất đa chiều của an ninh và phát triển đƣợc quyết định bởi tính chất đa chiều, nhiều cạnh của bản thân các chủ thể xã hội đó.
An ninh con ngƣời là điều kiện cần, là nền móng, bộ khung cho sự phát triển con ngƣời, còn phát triển con ngƣời lại góp phần đảm bảo và củng cố nền móng an ninh con ngƣời; mất an ninh con ngƣời tất yếu sẽ hủy hoại sự phát triển con ngƣời, nếu không có sự phát triển con ngƣời tất yếu sẽ dẫn đến mất an ninh con ngƣời (Đào Thị Minh Hƣơng và cộng sự, 2016). Năm 2015, tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực xây dựng là 77.500 doanh nghiệp, ngoài ra còn có các doanh nghiệp nhỏ, gia đình, tƣ nhân …. Các công ty khoa học và công nghệ đang bắt đầu với nhiều dự án quy mô lớn. Thông qua đó, trình độ và năng lực của nguồn nhân lực đã đƣợc cải thiện rõ rệt.
Nhiều công ty có tay nghề cao đã ký nhiều dự án đô thị và công nghiệp. Công nhân đƣợc trang bị nhiều thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho công tác xây dựng, nhất là các dự án lớn và phức tạp. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về thực trạng nguồn nhân lực nƣớc ta hiện nay, ngành xây dựng còn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu cả về số lƣợng và chất lƣợng, tỷ lệ công nhân trực tiếp sản xuất qua đào tạo kỹ năng nghề còn rất thấp, tác phong công nghiệp chƣa đƣợc cải thiện,…dẫn đến năng suất lao động không cao, chất lƣợng sản phẩm còn nhiều sai sót dẫn đến giảm sức cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế cũng nhƣ ngay tại thị trƣờng trong nƣớc. Theo cục thống kê, trong ngành xây dựng hiện nay có khoảng 32% cán bộ chƣa qua đào tạo, 41% trình độ sơ cấp và 68.7% đào tạo ở xã, huyện.
Trên cả nƣớc chỉ có 36% cán bộ có chuyên môn, đƣợc đào tạo trong lĩnh vực xây dựng. Và chính vì nguồn nhân lực quá ít đã dẫn đến nhiều ảnh hƣởng không nhỏ trong quá trình triển khai dự án, quản lý và quy hoạch. Có nhiều nhà quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ không đƣợc đào tạo về kỹ thuật chuyên môn, thiếu năng lực quản lý, điều đó khiến cho tính cạnh tranh ở những dự án xây dựng là không hề lớn. Ngoài kiến thức chuyên ngành, có rất ít cán bộ đƣợc đào tạo về những kỹ năng khác nhƣ ngoại ngữ là 3.9%, tin học là 17%, gây khó khăn trong công tác quản lý và giám sát xây dựng.
Nhiều khu vực thiếu nhân lực về quản lý công trình, quản lý đô thị và các giám sát dự án. Nguồn lao động là yếu tố quyết định đến hiệu quả và năng suất lao động nhƣng tỷ lệ lao động vẫn còn khá thấp. Năm 2015, Bộ Xây dựng đặt mục tiêu đào tạo là 25.585 mục tiêu, trong đó đào tạo ở các trƣờng nghề là 12.730 và đại học là 11. Trên thực tế, nhiều trƣờng không tuyển dụng lao động và nhiều sinh viên không có việc làm, một số khác phải đào tạo lại tại các doanh nghiệp.
Cơ cấu trung bình của Việt Nam giữa kỹ sƣ – ngƣời có trình độ – công nhân là 1: 1,3 : 0,5 trong khi trên thế giới là 1 : 4 : 10. Từ cơ cấu trên ta có thế thấy sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực trong ngành xây dựng, và tỉ lệ này có xu hƣớng ngày càng gia tăng. Khi các dự án xây dựng diễn ra nhanh và yêu cầu ngày càng cao, số lƣợng công nhân không kịp cung ứng gây ra tình trạng sụt giảm năng suất và chất lƣợng công trình, nhiều công nhân thiếu chuyên môn tạo ra sự sai sót trong công việc và khiến tính cạnh tranh trong ngành không cao. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực trạng nguồn nhân lực có một vai trò rất quan trọng trong những dự án xây dựng, nó ảnh hƣởng đến năng suất lao động, tiến độ và chi phí của cả dự án.
Hơn thế nữa, nguồn lao động còn góp phần vào quá trình phát triển kinh tế của cả nƣớc. Trong tƣơng lai gần, vấn đề nguồn lao động đòi hỏi cao hơn về tay nghề, kỹ năng và chất lƣợng đào tạo. Trong ngành xây dựng, thị trƣờng đòi hỏi trình độ về quản lý, sự chuyên nghiệp, khả năng sử dụng công nghệ để mang lại tính công bằng trong khai thác thị trƣờng. Về mặt lý luận, theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2016) thì an ninh con ngƣời trong doanh nghiệp đƣợc hiểu là “sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con ngƣời hay nguồn nhân lực trong doanh nghiệp”.
Trong đó, mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con ngƣời trong doanh nghiệp là việc phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để phát triển bền vững thông qua (I) tuyển dụng đội ngũ nhân sự ban đầu; (II) Đào tạo và phát triền nguồn nhân lực, (III) Duy trì nguồn nhân lực. Nhƣ vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng việc đảm bảo an ninh con ngƣời cho tổ chức thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực là vấn đề bức thiết đặt ra nhằm hạn chế – ngăn ngừa - phòng tránh các rủi ro trong công việc mà đội ngũ CBNV ngành xây dựng phải đối mặt hàng ngày, chính từ những sự cấp thiết nêu trên tác giả lựa chọn đề tài “Một số giải pháp đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại Sở xây dựng tỉnh Tuyên Quang” làm công trình nghiên cứu của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu Do lĩnh vực an ninh phi truyền thống nói chung và an ninh con ngƣời nói riêng là một vấn đề tƣơng đối mới nên các nghiên cứu trƣớc đây chƣa gắn đƣợc mối liên hệ giữa hoàn thiện công tác QTNNL với việc đảm bảo an ninh con ngƣời. Thực tế, kết quả các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên các quan điểm của tác giả về an ninh con ngƣời, các vấn đề an ninh con ngƣời mà thế giới đang đối mặt và thực trạng đảm bảo an ninh con ngƣời tại Việt nam hiện nay.
Các nghiên cứu này chƣa đề cập đến vai trò của công tác QTNNL với việc đảm bảo an ninh con ngƣời trong 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức nói chung và trong lĩnh vực xây dựng nói riêng. Chính vì vậy, đề tài tôi lựa chọn sẽ giúp tìm hiểu và đƣa ra những lý luận chung và những giải pháp cụ thể gắn liền với việc đảm bảo an ninh con ngƣời tại Sở xây dựng Tuyên Quang thông qua hoạt động QTNNL. Các nghiên cứu về lĩnh vực an ninh con ngƣời có thể kể đến nhƣ: a. An ninh con ngƣời trong bối cảnh toàn cầu hóa.
(Trần Việt Hà, 2016. Hà Nội: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam) Tác giả Trần Việt Hà cho rằng “an ninh còn đƣợc hiểu là không có sự uy hiếp, không có sự lo sợ; là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thƣờng của cá nhân hoặc của toàn xã hội”. Nó đƣợc xem là điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của con ngƣời và xã hội loài ngƣời. Điều này xuất phát từ quyền đƣợc đảm bảo về sự an toàn của con ngƣời (John Locke, 2, trang 49).
Thực tế, an ninh không chỉ phản ánh môi trƣờng an toàn, mà còn phản ánh trạng thái tâm lý - cảm giác an toàn, nó đối lập với trạng thái tâm lý - cảm giác bất an. Bất an là một trạng thái tâm lý bình thƣờng; nó thể hiện sự nhạy cảm của con ngƣời trƣớc những rủi ro. Dựa trên phân tích về khái niệm an ninh, tác giả đã đƣa ra khái niệm về an ninh con ngƣời. Theo Trần Việt Hà thì: “An ninh con ngƣời đƣợc hiểu là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con ngƣời trƣớc những nguy cơ xâm hại, đe dọa; nhờ việc đƣợc bảo vệ nhƣ vậy, mỗi cá nhân (nói riêng) và cộng đồng (nói chung) có đƣợc đời sống yên ổn và cơ hội phát triển.” Trong đó, ở phạm vi hẹp thì an ninh con ngƣời chính là sự bảo vệ cá nhân khỏi những mối đe dọa bạo lực.
Theo phạm vi rộng, an ninh con ngƣời chính là giải quyết mố số nhu cầu của con ngƣời từ đó đảm bảo hạnh phúc của mỗi cá nhân, bảo vệ cá nhân khỏi mối đe dọa. Thông qua việc đảm bảo an ninh con ngƣời, nó sẽ giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có thể nắm bắt các cơ hội cho sự phát triển của mình. Bên cạnh quan điểm về an ninh nói chung và an ninh con ngƣời nói riêng, tác giả cũng nêu quan điểm của mình về vai trò của nhà nƣớc trong việc bảo đảm an ninh con ngƣời và việc bảo đảm an ninh con ngƣời trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Trong đó, theo tác giả quan điểm vai trò đảm bảo an ninh con ngƣời trƣớc hết thuộc về nhà nƣớc vẫn đúng đắn nhƣng không đồng nghĩa với việc “ủy thác tuyệt 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối và hoàn toàn cho nhà nƣớc trong việc đảm bảo an ninh con ngƣời”.