MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài ngƣời, vì vậy đã đƣợc các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chƣơng trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Ngày 17/08/2004, Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, phê duyệt “Định hƣớng Chiến lƣợc Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam). Ngày 27/11/2006, Thủ tƣớng chính phủ đã ban hành Quyết định Phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể kinh tế xã - hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020”; ngày 5/8/2003 của Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW về xây dựng thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; ngày 28/5/2008 Ban Thƣờng vụ Thành ủy Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết 20/NQ-TU về quản lý, đầu tƣ, xây dựng và hoạt động của các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020; tháng 12/2013 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 2523-QĐ/UBND về Danh mục các dự án công nghiệp, khuyến khích đầu tƣ, không chấp nhận đầu tƣ trên địa bàn Hải Phòng đến năm 20120.
Khu công nghiệp có vai trò, vị trí rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng; Bởi nó góp phần quan trọng trong việc huy động các nguồn vốn đầu tƣ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nông thôn, bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Việc bổ sung số lƣợng khu công nghiệp và mở rộng diện tích các khu công nghiệp hiện có là điều hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu phát triển trong tình hình hiện tại ở thành phố. Song bên cạnh đó, việc xây dựng mới các khu công nghiệp lại mang đến nhiều hệ lụy đằng sau, làm ảnh hƣởng đến mục tiêu phát triển bền vững của thành phố Hải Phòng. Do mới xây dựng nên cơ sở hạ tầng của các khu công nghiệp chƣa đƣợc hoàn thiện, làm hạn chế tiến độ đầu tƣ; kim ngạch xuất khẩu thấp, thị trƣờng xuất khẩu thiếu tính bền vững; khả năng tạo việc làm, thu hút lao động còn hạn chế; công tác quy hoạch và quản lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 quy hoạch vẫn là khâu yếu; tài nguyên nƣớc bị ô nhiễm; Chất thải và nƣớc thải ở các khu công nghiệp chƣa đƣợc xử lý triệt để, làm ảnh hƣởng tới sức khoẻ và đời sống của nhân dân.
Do đó, việc tìm ra các giải pháp để xây dựng và phát triển các khu công nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững là vấn đề hết sức cần thiết đối với thành phố Hải Phòng, đặc biệt là trong giai đoạn 2015-2020, phát triển thành phố Hải Phòng theo hƣớng thành phố Cảng xanh, phát triển bền vững đúng theo Kết luận số 72 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc trƣớc năm 2020. Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài : “Giải pháp phát triển bền vững các Khu Công nghiệp thành phố Hải Phòng”; làm đề tài luận văn của mình. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng tình hình các Khu Công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng, trên cơ sở đó đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp cho phát triển bền vững các Khu Công nghiệp thành phố Hải Phòng.
Mục tiêu cụ thể Để hoàn thành mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản nhƣ sau: - Hệ thống hóa lý luận về khu công nghiệp và phát triển bền vững các khu công nghiệp. -Vai trò của phát triển bền vững các khu công nghiệp tới kinh tế, xã hội, chính trị và môi trƣờng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. - Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển bền vững khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng. - Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững các Khu Công nghiệp thành phố Hải Phòng.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Quá trình phát triển bền vững của khu công nghiệp, gồm một số vấn đề liên quan nhƣ: quy hoạch, đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thu hút đầu tƣ và quản lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 nhà đầu tƣ của các khu công nghiệp, hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp và tác động môi trƣờng của các khu Công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Đề tài tập trung chủ yếu là nghiên cứu, đánh giá, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng. - Về thời gian: Các số liệu thống kê đƣợc phân tích trong khoảng thời gian từ năm 2010 - 2014 và một số mục tiêu, chỉ tiêu phát triển dự báo đến năm 2020.
- Phạm vi về nội dung: + Thực trạng phát triển bền vững các KCN thành phố Hải Phòng từ năm 2010 - 2014. Đánh giá về phát triển bền vững nội tại KCN dựa trên các tiêu chí và số liệu thực tế của địa phƣơng, phân tích cả về mặt định tính và định lƣợng; tác động lan tỏa của KCN dƣới góc độ lý luận, phân tích định tính. Liên hệ với một số tỉnh, thành trong cả nƣớc. + Một số giải pháp phát triển bền vững các KCN thành phố Hải Phòng và đƣa ra kiến nghị.
Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp cho Ủy ban nhân dân thành phố, Ban Quản lý các Khu Công nghiệp thành phố Hải Phòng, các doanh nghiệp xây dƣng các kế hoạch để đầu tƣ phát triển bề vững các Khu Công nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh đầu tƣ vào Khu Công nghiệp với các tỉnh, thành phố trong cả nƣớc. Kết cấu của luận văn Luận văn bao gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Lý luận chung về Khu công nghiệp và phát triển bền vững Khu công nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng phát triển các Khu Công nghiệp thành phố Hải Phòng trong những năm qua Chƣơng 4: Giải pháp phát triển bền vững các khu công nghiệp thành phố Hải Phòng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững khu công nghiệp 1.
Khái niệm khu công nghiệp Khu công nghiệp (KCN) đầu tiên đƣợc thành lập năm 1896 ở Manchester (Anh) và vùng CN Clearng Chicago (Mỹ). Năm 1940, Ý thành lập KCN ở Napoli. Ngày nay, ở nhiều quốc gia, các khu vực trên thế giới, KCN, khu chế xuất đƣợc phát triển dƣới nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, năm 1991 KCN đầu tiên đƣợc thành lập (KCX Tân Thuận), cùng với quá trình hơn 20 năm hình thành và phát triển cũng đã xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau về KCN, KCX: - Theo Quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP của Chính phủ ngày 24/4/1997, quy định nhƣ sau: (1) KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập.
Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất; (2) KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập; (3) KCNC là khu tập trung các Doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo ra các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất. - Tại Khoản 20 Điều 3 Luật đầu tƣ năm 2005 ghi rõ: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ. - Nghị định 29/2008/NĐ-CP, ngày 14/3/2008 Của Chính phủ quy định: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 (l) KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định lại Nghị định này; (2) KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này; (3) KCN, KCX đƣợc gọi chung là KCN, trừ trƣờng hợp quy định cụ thể.
Từ các khái niệm trên và thực tế quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam, có thể hiểu một cách tổng quát về KCN nhƣ sau: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội đồng bộ, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động được thành lập theo quy định của Chính phủ. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp công nghệ cao. Phân loại khu công nghiệp Tuỳ theo góc độ tiếp cận, KCN có thể đƣợc phân loại bằng nhiều tiêu chí khác nhau nhƣ: theo tính chất ngành nghề, theo quy mô diện tích, theo điều kiện hình thành, theo đặc điểm quản lý hoặc theo cấp độ vệ sinh.