ĐẶT VẤN ĐỀ Đƣợc coi là một quốc gia “đất chật, ngƣời đông” Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong việc sử dụng quỹ đất. Những thập kỷ trƣớc, nhiều diện tích đất canh tác sử dụng không hợp lý đã bị suy thoái, xói mòn, bạc màu, làm giảm độ phì nhiêu của đất… Ngày nay, xã hội phát triển, quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá, sự bùng nổ dân số, diện tích đất nông - lâm nghiệp đã giảm rất nhiều do chuyển sang các mục đích sử dụng khác. Thêm vào đó là trình độ sử dụng đất thấp kém, kết hợp cùng những tập quán sử dụng đất lạc hậu đã hình thành từ lâu đời đã dẫn đến tình trạng nguồn tài nguyên đất của nƣớc ta đã hạn chế về diện tích song lại không đƣợc khai thác sử dụng một cách hợp lý trong các vùng lãnh thổ; các giải pháp sử dụng đất chƣa đƣợc nghiên cứu và đề xuất cho từng đơn vị đất đai đồng thời thiếu điều kiện để đầu tƣ thâm canh là những nguyên nhân chủ yếu của việc sử dụng đất kém hiệu quả và bền vững. Cần phải nhanh chóng có những loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế cao.
Cho nên, việc đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông - lâm nghiệp hiện tại là rất quan trọng để lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả nhất theo hƣớng phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trƣờng). Phúc Sơn là một xã miền núi trung du thuộc huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, đời sống nhân dân trong xã chủ yếu phụ thuộc vào các hoạt động nông - lâm nghiệp, bên cạnh những hộ gia đình có các mô hình canh tác nông - lâm nghiệp đạt hiệu quả cao vẫn còn tồn tại những hộ gia đình sản xuất theo tập quán canh tác cũ. Do đó, việc tạo ra các sản phẩm cây trồng đa dạng, năng suất cao, đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng, nâng cao đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng, không còn sự chệnh lệch về kinh tế trong các hộ gia đình đồng thời đảm bảo đƣợc vấn đề sử dụng đất bền vững thì việc nghiên cứu và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đề xuất các giải pháp sử dụng đất bền vững cho xã Phúc Sơn là vô cùng cần thiết. Nhằm đánh giá đúng đắn những thay đổi trong công tác quản lý, sử dụng đất nông lâm nghiệp trong thời gian gần đây tại xã Phúc Sơn làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã nhằm nâng cao đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng, đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An” đã đƣợc đề xuất thực hiện.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Mỗi năm trên thế giới có 11 triệu ha rừng bị chặt hạ, 5-7 triệu ha đất bị mất khả năng sản xuất (FAO-UNEP, 1983). Tổ chức FAO đã tổng kết và chỉ ra rằng: “Xói mòn đất đóng vai trò chủ yếu trong việc làm suy thoái đất, đặc biệt là các nƣớc nhiệt đới ẩm và liên quan chặt chẽ đến môi trƣờng tự nhiên, điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, chính sách, chế độ, phƣơng thức sử dụng đất” [2]. Với thực trạng sử dụng đất nhƣ trên, thì việc nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các biện pháp bón phân hợp lý, tăng năng suất cây trồng, lợi dụng đất một cách tổng hợp.
Tuy nhiên, đồng thời với các biện pháp khai thác tiềm năng của đất thì con ngƣời phải luôn luôn có kế hoạch khôi phục sức sản xuất của đất, đó chính là vấn đề sử dụng đất tổng hợp và bền vững. Trong quá trình sản xuất, con ngƣời đã có những phƣơng thức sử dụng đất thay đổi phù hợp với từng đối tƣợng cụ thể. Đứng trƣớc nhu cầu lƣơng thực của thế giới, các nhà khoa học đã thử nghiệm một số mô hình sử dụng đất trên phạm vi toàn cầu và đã đạt đƣợc một số kết quả khả quan. Nhiều công trình nhƣ: sử dụng cây họ Đậu, cây phân xanh trồng xen với cây trồng chính có tác dụng che phủ, hạn chế sự xói mòn, tăng đạm cho đất, bổ sung nguồn phân bón đáng kể cho đất [3].
Theo Zakhatop, Lucton, Sevich thì việc bón phân hữu cơ có tác dụng chống xói mòn rất tốt. Việc sử dụng phân bón là biện pháp chống xói mòn có hiệu quả, bón phân thúc đẩy cây sinh trƣởng tốt, tạo độ che phủ. Khi bón phân hữu cơ, đất sẽ có cấu trúc tốt hơn, khả năng ngấm nƣớc cao hơn, thúc đẩy vi sinh vật hoạt động. Do đó, tính chất đất đƣợc cải thiện rõ rệt [3].
Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifting cultivation) đó là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã đƣợc phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conklin, 1957). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Sau du canh là sự ra đời của các phƣơng thức Taungya (canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới hệ thống canh tác Taungya đƣợc cải tiến sửa đổi và dần dần đƣợc hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và đƣợc coi nhƣ là một hệ thống sử dụng có hiệu quả về kinh tế lẫn môi trƣờng sinh thái. Một số phƣơng thức sử dụng đất có hiệu quả cao lâu bền trên đất dốc là mô hình SALT (Sloping Agriculture Land Technology) đƣợc Trung tâm phát triển đời sống nông thôn Bastptit Mindanao Philippines tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa năm 1997 đến nay [4]. Các mô hình đó không chỉ đƣợc ứng dụng và phát triển rộng rãi ở Philippines mà còn đƣợc các nhóm cộng tác quốc tế và khu vực tiếp cận và ứng dụng.
- Mô hình SALT1 kỹ thuật canh tác đất nông nghiệp. Đây là mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở phối hợp tốt các biện pháp bảo vệ đất đối với sản xuất lƣơng thực. Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu cây đƣợc sử dụng để đảm bảo SALT1: 75% diện tích đất nông nghiệp (50% là cây hàng năm và 25% cây lâu năm) ổn định, có hiệu quả và 25% cây lâm nghiệp. - Mô hình SALT2 (Simple Agrolivestock Technology): là mô hình kinh tế nông súc kết hợp đơn giản với cơ cấu 40% cho nông nghiệp + 20% lâm nghiệp + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại [5].
- Mô hình SALT3 (Sustainable Agro - Forest Technology) - Kỹ thuật canh tác lâm nghiệp bền vững. Đây là mô hình sử dụng đất tổng hợp dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với việc sản xuất lƣơng thực thực phẩm. Cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở đây là 40% đất dành cho nông nghiệp, 60% dành cho lâm nghiệp [5]. - Mô hình SALT4 (Small AgroFruit Likelihood Technology) - Mô hình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp với cây ăn quả quy mô nhỏ.
Trong mô hình này, ngoài đất đai dành cho nông nghiệp - lâm nghiệp, cây hàng rào xanh còn dành ra 1 phần để trồng cây ăn quả. Cơ cấu sử dụng đất dành cho lâm nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 60%, nông nghiệp 15% và cây ăn quả 25%. Đây là mô hình đòi hỏi đầu tƣ cao cả về nguồn lực, vốn và kỹ thuật canh tác [5]. Một số hệ thống nông lâm kết hợp Đông Nam Á: Ở Philippines: Các khu vực trồng rừng đƣợc xen canh với hoa màu nông nghiệp có sự tham gia của ngƣời dân [6].
Hệ thống nông lâm nghiệp ở Trung Quốc: Là hệ thống nông nghiệp dựa vào cây gỗ gồm rừng và cây công nghiệp với quy mô lớn để sản xuất gỗ. Ví dụ: hệ thống cây linh sâm xen với cây hoa màu trồng trong giai đoạn khi mới trồng rừng và một số mô hình nông lâm kết hợp khác của Trung Quốc nhƣ trồng xen cây hoa màu với Paulownia [6]. Các chƣơng trình xã hội và xóa đói giảm nghèo. - Y tế và an toàn lƣơng thực.
Trên đây là những tài liệu liên quan đến vấn đề sử dụng đất, các hệ thống canh tác và các phƣơng pháp tiếp cận nông thôn mới trên thế giới đã đƣợc các tác giả nghiên cứu và đƣợc áp dụng trên nhiều quốc gia.Có thể coi các tài liệu nói trên làm cơ sở để các nƣớc áp dụng trong công tác quy hoạch sử dụng đất. Ở Việt Nam Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, phần lớn diện tích và dân số sống ở nông thôn.Việc phát triển các hệ thống canh tác phù hợp có nhiều ý nghĩa đối với ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nƣớc không ngừng nghiên cứu tìm hiểu các hệ thống canh tác trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam nhằm chọn lựa và tìm ra hệ thống phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của từng địa phƣơng, từng vùng lãnh thổ. Nhiều nghiên cứu về phát triển nông lâm nghiệp đã đƣợc tiến hành, kết quả thu đƣợc đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế vùng đồi núi của Việt Nam.
Đảm bảo sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tốt các nguồn lợi và các mối quan hệ của sinh thái với hiệu quả đầu tƣ là cao nhất nhằm phát triển sản xuất, khai thác đƣợc hết các điều kiện đặc trƣng của từng vùng. Ngƣời ta đã nhận thức đƣợc rằng vấn đề phát triển nông nghiệp trong tƣơng lai cần có kế hoạch lâu dài, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo thực sự tính bền vững và phát triển.Cần tiến tới một chế độ canh tác khai thác hợp lý trên đất dốc nƣơng rẫy ở vùng đồi núi Việt Nam. Vì hoạt động của con ngƣời khai thác tài nguyên thiên nhiên mà thảm thực vật ngày càng thu hẹp nhanh, độ che phủ mặt đất bằng cây rừng, cây trồng ngày càng giảm sút, đất trống đồi trọc ngày càng nhiều, đất đai bị xói mòn rửa trôi nghiêm trọng. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm canh tác truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc, tác giả Ngô Đình Quế cùng cộng sự đã đề xuất PTCT luân canh nƣơng rẫy cải tiến: Canh tác 3 năm - Trồng cây họ đậu phủ đất 2 -3 năm - canh tác 3 - 4 năm - trồng cây họ đậu phủ đất 3 - 4 năm.