Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với hơn 310 loài thú, trong đó có 94 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 đứng trước các nguy cơ tuyệt chủng khác nhau. Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp thuộc tỉnh Sơn La được thành lập theo Quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 11/11/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 18.709,0 ha. Khu vực này giữ vai trò là hành lang sinh thái xung yếu phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Mã và là nơi lưu giữ các hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng núi Tây Bắc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng suy giảm nghiêm trọng của các quần thể động vật hoang dã dưới áp lực săn bắt trái phép, mất sinh cảnh sống và thiếu hụt nguồn dữ liệu điều tra cập nhật định kỳ. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xây dựng danh lục các loài thú quan trọng, xác định hiện trạng quần thể, đặc điểm phân bố không gian sinh thái và nhận diện có hệ thống các mối đe dọa đối với khu hệ thú tại khu bảo tồn.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trọn vẹn trên diện tích 18.709,0 ha của Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, trải dài trên địa bàn các xã Huổi Một, Mường Cai, Dồm Cang, Púng Bánh, Nậm Mằn và Sốp Cộp ở độ cao từ 800m đến 1.940m. Toàn bộ quá trình thu thập và hoàn thiện dữ liệu được thực hiện năm 2013. Luận văn đóng góp hệ thống cơ sở dữ liệu nền tảng gồm 37 loài thú quan trọng, hỗ trợ tối ưu hóa hiệu quả tuần tra kiểm lâm trên 9 tuyến trọng điểm và cung cấp luận cứ khoa học để quy hoạch 5.149 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Sinh thái học Quần thể (Population Ecology) và Lý thuyết Phân bố Sinh thái Cảnh quan (Landscape Ecology). Các mô hình này giải thích mối tương quan giữa sự phân mảnh sinh cảnh, độ cao địa hình và kích thước quần thể của các loài thú quý hiếm. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng Mô hình Đánh giá Giảm thiểu Mối đe dọa (Threat Reduction Assessment - TRA) do Margoluis và Salafsky phát triển năm 2001 nhằm định lượng hóa mức độ rủi ro sinh thái.

Khung lý thuyết luận văn tập trung vào 4 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  1. Loài thú quan trọng (Priority Mammal Species): Các loài có giá trị bảo tồn nguồn gen, giá trị kinh tế hoặc ý nghĩa nghiên cứu khoa học, bị đe dọa bởi tác động nhân sinh.
  2. Tính dễ bị tổn thương sinh học (Biological Vulnerability): Nguy cơ suy giảm số lượng cá thể khi sinh cảnh bị chia cắt mạnh.
  3. Sinh cảnh then chốt (Core Habitat): Các dải rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới có độ tàn che từ 0,7 đến 0,9.
  4. Phân hạng bảo tồn: Tiêu chuẩn xếp loại nguy cấp theo Danh lục đỏ IUCN năm 2010, Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu sơ cấp thu thập qua các đợt thực địa và dữ liệu thứ cấp từ trạm khí tượng thủy văn Sông Mã giai đoạn 1962-2010 cùng các báo cáo điều tra đa dạng sinh học giai đoạn 1998-2003.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn có chọn lọc 25 đến 30 người gồm thợ săn giàu kinh nghiệm, người dân đi rừng lâu năm và cán bộ kiểm lâm địa phương. Điều tra thực địa được tổ chức thành 3 đợt với 9 tuyến khảo sát chính có chiều dài 4-5 km mỗi tuyến, tổng chiều dài khảo sát đạt khoảng 40 km, phủ khắp các sinh cảnh từ đai cao 900m đến đỉnh núi 1.940m.

Phương pháp phân tích dựa trên ghi nhận dấu vết gián tiếp (dấu chân bằng giấy mica, vết cào, vết cọ sát thân cây, mẫu phân, lông, tổ) kết hợp lắng nghe tiếng kêu đặc trưng vào khung giờ 5h30 đến 17h30 và các đợt khảo sát ban đêm. Lý do lựa chọn phương pháp gián tiếp kết hợp máy định vị GPS là vì mật độ thú rừng hiện tại rất thấp, tập tính lẩn tránh cao và địa hình chia cắt phức tạp với độ dốc trung bình 26-35 độ. Dữ liệu không gian được xử lý trên phần mềm MapInfo để lập bản đồ phân bố, và phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để phân tích thống kê mối đe dọa theo 3 tiêu chí TRA gồm phạm vi, cường độ và tính cấp thiết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận được tổng cộng 37 loài thú quan trọng thuộc 7 bộ và 15 họ sinh sống tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp. Trong tổng số 37 loài ghi nhận, có tới 36 loài (chiếm 97,30%) có giá trị bảo tồn cao cần ưu tiên bảo vệ đặc biệt. Đánh giá theo các danh mục bảo tồn cho thấy: 29 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN năm 2010 (chiếm 78,38%), 31 loài được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (chiếm 83,78%) và 30 loài thuộc danh mục quản lý của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP (chiếm 81,08%).

Cơ cấu thành phần loài phân hóa rõ rệt: Bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm ưu thế tuyệt đối với 19 loài (chiếm 51,35%), Bộ Linh trưởng (Primates) có 8 loài (chiếm 21,62%), Bộ Gặm nhấm (Rodentia) có 4 loài (chiếm 10,81%), Bộ Guốc chẵn (Artiodactyla) có 3 loài (chiếm 8,11%), các bộ Voi (Proboscidea), Cánh da (Dermoptera) và Tê tê (Pholidota) mỗi bộ ghi nhận 1 loài (chiếm 2,70% mỗi bộ).

Về hiện trạng quần thể các loài nguy cấp, nghiên cứu ghi nhận 1 đàn sói đỏ khoảng 5-6 cá thể tại khu vực Huổi Hưa thuộc xã Mường Cai; 1 cá thể báo gấm nặng 15 kg bị săn bắt tại đỉnh Pu Căm vào tháng 2/2013; loài voi châu Á còn khoảng 1-2 cá thể di chuyển qua lại khu vực Mường Cai giáp biên giới Lào vào mùa thu hoạch ngô tháng 8-9 hàng năm. Đối với loài hổ, không còn ghi nhận dấu vết thực địa thường xuyên, khả năng cao đã bị tuyệt chủng cục bộ trong khu bảo tồn.

Thảo luận kết quả

Sự phân bố của các loài thú tập trung chủ yếu tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Pu Cọp Mương (2.801 ha) và Pu Căm (2.348 ha) ở độ cao trên 700m đến 1.937m, nơi còn duy trì kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp ít bị tác động. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm của khu hệ thú bắt nguồn từ áp lực sinh kế của 33 hộ dân (192 nhân khẩu) sống tại vùng lõi với thu nhập bình quân chỉ 1,1 - 1,3 triệu đồng/người/năm, dẫn tới tình trạng săn bắn động vật và khai hoang nương rẫy làm phân mảnh sinh cảnh.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại Sốp Cộp giai đoạn 1998-2003 (chỉ ghi nhận 32 loài thú thông thường), nghiên cứu này đã bổ sung và định danh chính xác 37 loài thú quý hiếm. Xu hướng suy giảm của các loài linh trưởng và thú móng guốc tại Sốp Cộp tương đồng với thực trạng được ghi nhận tại Vườn quốc gia Pù Mát và Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.

Các dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua hệ thống bảng phân hạng bảo tồn chi tiết và sơ đồ GIS phân bố không gian cho từng nhóm loài riêng biệt: nhóm linh trưởng, nhóm thú ăn thịt lớn và nhóm thú ăn cỏ lớn. Cách tiếp cận hiển thị dữ liệu qua bản đồ chuyên đề giúp ban quản lý nhanh chóng khoanh vùng các điểm nóng bị xâm hại để bố trí nguồn lực bảo vệ kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thú rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Điều chỉnh và mở rộng ranh giới quy hoạch bảo tồn: Tiến hành sáp nhập toàn bộ diện tích rừng cấm Sài Khao (khoảng 500 ha thuộc xã Mường Cai) vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn. Mục tiêu bảo vệ an toàn 100% sinh cảnh sống của quần thể Vượn đen má trắng quý hiếm trong giai đoạn 2014-2016. Cơ quan chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

  2. Nâng cao năng lực giám sát và thực thi pháp luật lâm nghiệp: Thiết lập hệ thống tuần tra định kỳ trên 9 tuyến trọng điểm với tần suất tối thiểu 2 đợt mỗi tháng, tập trung tháo gỡ bẫy bắt và xóa bỏ 100% các điểm săn bắn trái phép tại khu vực Khe Sanh và đỉnh Pu Căm trước năm 2015. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp kết hợp Hạt Kiểm lâm Sốp Cộp - Sông Mã.

  3. Thực hiện chương trình tái định cư và chuyển đổi sinh kế bền vững: Triển khai phương án di dời 18 hộ dân (120 nhân khẩu) tại bản Phiêng Piềng ra khỏi phân khu bảo vệ nghiêm ngặt về trung tâm xã Mường Cai. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân từ 1,3 triệu đồng lên trên 3,0 triệu đồng/người/năm vào năm 2018 thông qua các mô hình nông lâm kết hợp. Chủ thể chịu trách nhiệm là Ủy ban nhân dân huyện Sông Mã và Ban Quản lý dự án di dân tái định cư.

  4. Tăng cường truyền thông giáo dục và quản lý dựa vào cộng đồng: Tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng với 100% hộ dân thuộc các xã vùng đệm gồm Dồm Cang, Huổi Một, Mường Cai và Púng Bánh; tích hợp quy ước bảo vệ thú rừng vào hương ước thôn bản giai đoạn 2014-2015. Đơn vị thực hiện là Ban Quản lý khu bảo tồn phối hợp với chính quyền các xã sở tại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia vùng Tây Bắc: Cung cấp tài liệu thực tiễn để xây dựng đề án quy hoạch phân khu chức năng, thiết kế mạng lưới tuyến tuần tra rừng và áp dụng thang đo TRA trong lượng hóa mối đe dọa sinh cảnh.

  2. Cán bộ quản lý ngành Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm: Sử dụng các số liệu thực tế về phân bố loài và hiện trạng kinh tế - xã hội vùng lõi để xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hoạch định kế hoạch di dời tái định cư và phòng chống săn bắt động vật hoang dã.

  3. Các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học: Cung cấp khung tham chiếu về phương pháp điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn dân cư, kỹ thuật nhận diện dấu vết gián tiếp và phương pháp xử lý dữ liệu không gian bằng MapInfo.

  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Khoa học Môi trường: Tài liệu học thuật chuẩn mực giúp tham khảo cấu trúc phân tích luận văn thạc sĩ, phương pháp lập danh lục phân loại học và các chỉ số thống kê bảo tồn theo tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp hiện ghi nhận bao nhiêu loài thú có giá trị bảo tồn cao? Nghiên cứu đã ghi nhận 37 loài thú quan trọng thuộc 7 bộ và 15 họ, trong đó có tới 36 loài mang giá trị bảo tồn cao. Danh lục ghi nhận 29 loài thuộc Danh lục đỏ IUCN năm 2010, 31 loài trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và 30 loài thuộc nhóm bảo vệ của Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Hiện trạng quần thể loài Vượn đen má trắng tại khu vực nghiên cứu ra sao? Loài Vượn đen má trắng thuộc bậc Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục đỏ IUCN. Hiện tại trong vùng lõi khu bảo tồn không ghi nhận dấu hiệu trực tiếp, nhưng một quần thể vượn vẫn sinh sống an toàn tại khu rừng cấm Sài Khao giáp ranh thuộc xã Mường Cai nhờ được người dân bảo vệ theo luật tục.

Loài hổ và thú ăn thịt lớn có còn phân bố tại Khu bảo tồn Sốp Cộp không? Theo kết quả điều tra và phỏng vấn, loài hổ nhiều khả năng đã bị tuyệt chủng cục bộ trong khu bảo tồn, dấu vết ghi nhận năm 2012 được nhận định là cá thể vãng lai từ Lào. Ngược lại, một số loài ăn thịt lớn vẫn tồn tại như đàn sói đỏ 5-6 con và loài báo gấm.

Những áp lực chính nào đang đe dọa quần thể thú hoang dã tại đây? Áp lực lớn nhất là nạn săn bắn trộm và mất sinh cảnh do nương rẫy. Đời sống của 33 hộ dân vùng lõi còn rất khó khăn với mức thu nhập bình quân chỉ 1,1 - 1,3 triệu đồng/người/năm, khiến người dân phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên rừng để bù đắp thực phẩm.

Phương pháp TRA được áp dụng đánh giá mối đe dọa như thế nào trong luận văn? Phương pháp TRA đánh giá các mối đe dọa dựa trên 3 tiêu chí định lượng gồm: phạm vi ảnh hưởng trong tổng diện tích 18.709 ha, cường độ phá hủy đa dạng sinh học và mức độ cấp thiết về mặt thời gian, từ đó cho điểm tổng hợp để xếp hạng ưu tiên xử lý.

Kết luận

  • Xác định thành công danh lục 37 loài thú quan trọng thuộc 7 bộ, 15 họ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, trong đó có 36 loài thuộc diện quý hiếm được bảo tồn cấp quốc gia và quốc tế.
  • Bộ Ăn thịt và Bộ Linh trưởng chiếm tỷ lệ cao nhất trong cấu trúc khu hệ thú với lần lượt 19 loài (51,35%) và 8 loài (21,62%), đóng vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái vùng đầu nguồn sông Mã.
  • Tình trạng quần thể nhiều loài thú lớn như hổ, voi, gấu và linh trưởng đang suy giảm nghiêm trọng hoặc đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cục bộ do hoạt động săn bắn và thu hẹp sinh cảnh.
  • Cung cấp cơ sở khoa học định lượng bằng phương pháp TRA và bản đồ phân bố GIS, chứng minh sự cấp thiết của việc mở rộng diện tích bảo tồn sang khu rừng cấm Sài Khao.
  • Đề xuất lộ trình đồng bộ từ tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt 9 tuyến trọng điểm đến di dời 18 hộ dân vùng lõi nhằm phục hồi sinh cảnh tự nhiên trong giai đoạn 2014-2018.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện bộ dữ liệu điều tra thực địa toàn diện về khu hệ thú quý hiếm tại Sốp Cộp, lấp đầy khoảng trống thông tin khoa học tồn tại suốt hơn một thập kỷ qua. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý được khuyến khích khai thác bộ cơ sở dữ liệu này nhằm hoạch định các chương trình hành động bảo tồn đa dạng sinh học kịp thời và hiệu quả.