Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam những tài liệu về thú rừng đã có từ lâu. Ngay từ thế kỷ 18, đã có các công trình nghiên cứu như: “Vân đài loại ngữ” , “Phủ biên tập lục” của Lê Quý Đôn (1726-1784) và “Đại Nam thống nhất trí” (1864-1875) của các nhà bác học triều Nguyễn ghi chép, mô tả một số loài thú địa phương cho các sản phẩm quý như ngà voi, sừng tê giác, mật gấu, nhung hươu, xạ hương…Tuy nhiên, đấy chưa phải là những công trình nghiên cứu khoa học. Từ thế kỷ 19, nghiên cứu thú ở Việt Nam đã có sự chuyển biến.
Các nhà khoa học tự nhiên nước ngoài bắt đầu khảo sát tài nguyên thiên nhiên Việt Nam trong đó có thú. Đáng kể là các công trình của Milne – Edwards (1867 – 1874), Morice (1875), Billet (1896 -1898), Boutan (1900- 1906), De Pousargues (1904), Ménégaux (1905 -1906). Thời kỳ này có các đoàn khảo sát quy mô lớn như đoàn Pavie (1879 – 1895) hoạt động ở Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam và các mẫu thú đoàn thu được đã được De Pousargues phân tích và công bố; Đoàn khoa học thường trú bắc Bộ do Boutan đứng đầu (1900-1906) thu thập các tiêu bản thú gửi về Paris do Ménégaux (1905- 1906) phân tích; Đoàn Delacour (1925-1933) đã tiến hành khảo sát trên diện rộng và thu mẫu tiêu bản trên toàn quốc. Các tiêu bản thú được Thomas (1925,1928) và Osgood (1932) phân tích và công bố danh sách các loài trong đó có tê giác (Rhinoceros), nai (Cevus unicolor), lợn rừng (Sus scrofa), vượn, khỉ, các loài ăn thịt và gặm nhấm (Rodentia).
Có thể nói đây là thời kỳ thu thập mẫu và lập danh lục các loài thú ở Việt Nam và Đông Dương với các loài lần lượt được công bố: Năm 1876, Morice công bố công trình nghiên cứu trong đó thống kê khu hệ thú Nam bộ có 13 loài Gặm nhấm, bao gồm 5 loài chuột, 7 loài sóc và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 1 loài Nhím. Năm 1904, De Pousargues công bố 38 loài thú ở Nam bộ bao gồm các nhóm: Dơi, Guốc chẵn, thú ăn thịt nhỏ và gặm nhấm. Năm 1927, 1928, 1929 Thomas công bố danh sách 29 loài gặm nhấm… Đặc biệt, năm 1932, H. Osgood phân tích tài liệu của anh em nhà Roosevelts được bảo quản tại bảo tàng Paris, Luân Đôn và Washington đã công bố một danh lục gồm 172 loài và phân loài thú ở Việt Nam.
Có thể nói đây là công trình mang tính khoa học nhất thời bấy giờ. Sau khi Miền Bắc được giải phóng (1954), do yêu cầu phục hồi và phát triển kinh tế, công tác điều tra cơ bản về động vật nói cung và thú hoang dã nói riêng bắt đầu được đẩy mạnh và hoàn toàn do cán bộ Việt Nam đảm nhận. Năm 1973, Lê Hiền Hào [1] công bố cuốn sách “Thú kinh tế Miền bắc Việt Nam” giới thiệu về 38 loài thú kinh tế. Mỗi loài tác giả nêu chỗ ở, tập tính, thức ăn, sinh sản, sinh trưởng và phát triển, thay lông, cạnh tranh và kẻ thù, số lượng và ý nghĩa kinh tế.
Theo lời giới thiệu sách của GS Đào Văn Tiến thì “ Đây là cuốn sách chuyên khảo tương đối toàn diện về nguồn lợi thú của Miền bắc nước ta”. Năm 1981, Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Bùi Kính, Cao Văn Sung [2] công bố “Kết quả điều tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam (1962- 1976)” đã thống kê được 109 loài và phân loài thú. Các tác giả cũng đã lập sanh sách các loài thú có ý nghĩa kinh tế gồm: thú cho thịt, da, săn bắn (10 loài), thú cho da, lông (21 loài), thú cho dược liệu (10 loài), thú xuất khẩu (12 loài), thú có ích cho nông nghiệp (7 loài) và thú có hại cho nông nghiệp (5 loài). Đặc biệt, năm 1985, Đào Văn Tiến [4] đã tổng hợp các kết quả điều tra động vật trên 12 tỉnh (cũ) miền Bắc từ 1957 đến 1971 viết thành cuốn “Khảo sát thú Miền Bắc Việt Nam”.
Trong công trình này, tác giả đã thống kê được 129 loài thú thuộc 32 họ, 11 bôn trong đó có 8 loài và phân loài lần đầu tiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phát hiện ở Bắc Trung Bộ , 5 loài và phân loài mới có cho khoa học (riêng ở Nghệ An có 23 loài và phân loài , thuộc 11 họ, 4 bộ). Công trình đã sơ bộ quy vùng địa lý - động vật cho Việt Nam, nêu tính đa dạng và mật độ của các loài thú cũng như đặc điểm sinh thái-sinh học của chúng. Đây là công trình hoàn chỉnh nhất lúc bấy giờ, là tài liệu có giá trị tham khảo cho các nhà thú học Việt Nam. Trên cơ sở tổng hợp các dẫn liệu có, năm 1994, Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên [5] đã công bố danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam gồm 223 loài (chưa có các loài thú biển thuộc bộ Sirenia và bộ cá voi) thuộc 12 bộ, 37 họ.
Các kết quả thống kê trong tài liệu này cũng cho thấy ở Nghệ An có 48 loài thuộc 21 họ 8 bộ, Hà Tĩnh có 46 loài, 21 họ, 9 bộ và Quảng Bình có 46 loài , 21 họ, 9 bộ. Mỗi loài các tác giả đã nêu tên khoa học, tên đông nghĩa, tên Việt Nam và tên địa phương (một số dân tộc sử dụng), vùng phân bố ở Việt Nam và trên thế giới, giá trị kinh tế, giá trị bảo tồn, tình trạng, biện pháp sử dụng và bảo vệ. Trong những năm 1993-1997, việc điều tra đa dạng sinh vật trong đó có thú được tiến hành trên các khu vực mới như Vũ Quang, Pù Mát (Nghệ Tĩnh) và Hiên - Tây Quảng Nam đã phát hiện một số loài thú mới như: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang trường sơn (Caninmuntiacus truongsonensis).E, Phạm Trọng Ảnh, Rosnov cũng đã công bố loài Cầy giông tây nguyên (Viverra tainguyenensis). Đây là những tài liệu mới nhất góp phận đánh giá và chứng minh tính đa dạng của khu hệ thú Việt Nam.
Cũng từ thập kỷ 90 của thế ly 20, các nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu đa dạng sinh học động vật nói chung trong đó có các khu hệ thú, thu thập nhiều dẫn liệu về sinh thái, sinh học, các nguyên nhân làm suy giảm nguồn thú hoang dã ở Việt Nam và đã công bố nhiều công trình có ý nghĩa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Năm 2000, Lê Vũ Khôi [6] đã xuất bản cuốn Danh lục các loài thú ở Việt Nam với 289 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ (bổ sung cho các công bố trước đây 2 bộ, 3 họ). Mỗi loài tác giả nêu tên khoa học, tên Việt, tiếng các dân tộc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga [6]. Việc nghiên cứu các khu hệ thú địa phương cũng đã được các nhà khoa học chú trọng, đặc biệt là các VQG như VQG Bến En [7], khu BTTN Xuân Liên [9] , khu BTTN Pù Hoạt [8], VQG Pù Mát [10,11], VQG Vũ Quang , Khu BTTN Kẻ Gỗ, VQG Phong nha – Kẻ Bàng [12,16,14], Khu BTTN Phong Điền và Đăckrông, VQG Bạch Mã [13]….
Ngoài ra, năm 1999, Timmins, R,J , Trịnh Việt Cường nghiên cứu về khu hệ thú ở khu vực Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 2000, Nguyễn Xuân Đặng, TRương Văn Lã [15] nghiên cứu đa dạng động vật có xương sống ở Phong Nha - Kẻ Bàng – Hin Nam No thống kê được 97 loài thú thuộc 25 họ, 9 bộ trong đó có một số loài và phân loài mới phát hiện ở Việt Nam như: Mang lớn (Megamuntiacus vuquanggensis), Sao la (Pseydory nghetinhgensis); Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (2000) [19] nghiên cứu khu hệ động vật hoang dã ( thú, chim, bò sát, lưỡng cư) vùng ven biển đồng bằng sông Hồng; Lê Vũ Khôi (2000) [17] so sánh tính đa dạng sinh học các loài thú ở các VQG và khu BTTN ở Miền Bắc, Lê Vũ Khôi (2005) [13] tìm hiểu đa dạng khu hệ thú ở Vườn quốc gia Bạch Mã công bố 132 loài thuộc 28 họ, 10 bộ. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đã chú trọng nghiên cứu đặc điểm của các nhóm thú riêng biệt. Về Dơi, có công trình của Cao Văn Sung và cộng sự (2000) [18] bước đầu điều tra Dơi ở miền Nam Việt Nam thống kê được 34 loài Dơi thuộc 17 giống, 6 họ và mô tả đặc điểm hình thái , sinh học, sinh thái của 30 loài sưu tầm được.
Năm 2001, Lê Vũ Khôi, Hà Thăng Long, Walsin [20] nghiên cứu khu hệ Dơi Cúc Phương; Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Xuân Đặng, Hendrichsen D (2000) [26] trong công trình “Kết quả bước đầu tiên điều tra dơi ở Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) và Hữu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Liên (Lạng Sơn)” thống kê được 37 loài thuộc 5 họ ở Phong Nha - Kẻ Bàng và 12 loài thuộc 5 họ ở Hữu Kiên đồng thời nêu các tác động của con người lên các khu hệ Dơi nói trên. Lê Vũ Khôi, Vũ Đình Thống (2005) [21] nghiên cứu thành phần loài Dơi hiện biết tại Việt Nam ghi nhận 107 loài thuộc 31 giống, 7 họ, 2 phân bộ. Tác giả cũng nghiên cứu sự phân bố địa lý của các loài (Khu vực Bắc Bộ có 77 loài 25 giống 7 họ, khu vực Trung Bộ có 94 loài 28 giống 6 họ và vùng Nam Bộ có 35 loài 13 giống 6 họ) đồng thời mô tả đặc điểm nhận dạng, số đo, nơi sống, thức ăn, mùa sinh sản, phân bố và giá trị sử dụng. Tác giả cũng đã lập bảng thống kê thành phần loài Dơi hiện biết tại Việt Nam gồm 109 loài thuộc 7 họ.
Trong đó có 15 loài có tên trong Danh lục Đỏ của IUCN ( 2006) và 9 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2000). Về Các loài gặm nhấm, năm 1980, Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính công bố công trình “Những loài gặm nhấm Việt Nam” trong đó nêu 64 loài thuộc 23 giống, 7 họ. Năm 1986, Lê Vũ Khôi, Trần Hồng Việt nghiên cứu sinh thái học một số loài Gặm nhấm vùng Sa Thầy (Gia Lai – Kon Tum). Cao Văn Sung, Phạm Đức Tiến (2000) nghiên cứu các loài chuột ở quần đảo Trường Sa đã nêu đặc điểm cấu trúc chủng quần, sự biến động số lượng của 4 loài chuột (R.gemani) đồng thời thử nghiệm một số phương pháp diệt chuột hiệu quả và không gây ô nhiễm môi trường.
Năm 2005, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Minh Tâm [23] nghiên cứu thành phần phân loại học và đặc điểm động vật địa lí học của khu hệ Gặm Nhấm (Rodentia) ở Việt Nam đã thống kê được 66 loài thuộc 27 giống, 7 họ.