phần mở đầu, kết luận và danh mục tư liệu thì phần nội dung luận văn chia làm ba chương chính như sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài. Các khái niệm liên quan. Hành động cầu khiến trong tiếng Việt. Hành động nhờ trong mối quan hệ với hành động cầu khiến.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 2: Nhận diện hành động nhờ trong tiếng Việt. Tiêu chí nhận diện hành động nhờ trong tiếng Việt. Phương pháp nhận diện hành động nhờ trong tiếng Việt. CHƢƠNG 3: Phƣơng thức biểu hiện hành động nhờ trong tiếng Việt.
Phương thức biểu hiện hành động nhờ trực tiếp 2. Phương thức biểu hiện hành động gián tiếp và tính lịch sự của hành động nhờ trong tiếng Việt. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Các khái niệm mang tính định hướng cho luận văn bao gồm các khái niệm có liên quan mật thiết đến việc nghiên cứu hành động nhờ trong tiếng Việt như hành động ngôn từ, hành động cầu khiến tiếng Việt nói chung.
Ngoài ra, một phát ngôn trong giao tiếp của người Việt tương ứng với một lời nên luận văn cũng làm rõ khái niệm lời để dễ dàng khảo cứu hành động nhờ, lời nhờ tiếng Việt. Đồng thời, khái niệm về tình thái của phát ngôn cũng được đưa ra ở đây nhằm làm rõ nghĩa tình thái có tác động cụ thể đến người nghe nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Ở hành động nhờ, nghĩa tình thái sẽ nhằm mục đích hối thúc hay nài nỉ để tiếp ngôn thục hiện hành động. Khái niệm lời Như trên đã trình bày, lời nhờ là phát ngôn nhằm thực hiện hành động nhờ trong tiếng Việt nên khái niệm lời là một trong những khái niệm cần chỉ ra để tìm hiểu lời nhờ trong các phần tiếp theo của nghiên cứu.
Trước tiên, chúng ta cần phân biệt thuật ngữ lời và thuật ngữ câu. Câu, theo cách hiểu của ngữ pháp học là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung xung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể. Còn lời, có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất như sau ―Lời là hiện dạng của câu trong một ngôn cảnh giao tiếp‖[10] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, ngữ pháp của câu thì nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp, các kiểu quan hệ cú pháp của câu. Ngữ nghĩa của câu thì nghiên cứu nghĩa biểu hiện của câu để phản ánh sự tình tức là nghiên cứu nội dung câu, nghiên cứu các thành phần cấu tạo nên câu.
Ngữ pháp ngữ nghĩa của câu xây dựng quy tắc và sử dụng ý nghĩa của hệ thống các phương tiện ngôn ngữ chủ yếu qua mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời có đối tượng nghiên cứu là lời, sản phẩm cụ thể của câu nên việc nghiên cứu không chỉ bao chứa mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy mà còn bao chức sự tác động của các nhân tố như mục đích nói, hoàn cảnh nói, tâm lý văn hóa dân tộc, vị thế giao tiếp hay tri thức và tuyến tính hóa thành các biểu thức mang tính quy tắc để mọi người nhận diện và sử dụng đạt hiệu quả giao tiếp cao. Như vậy, các vấn đề liên quan đến ngữ pháp ngữ nghĩa của lời nhờ có quan hệ trực tiếp đến người nói và người nghe trong bối cảnh cụ thể nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Tình thái Tình thái là một khái niệm có liên quan đến hành động nhờ trong tiếng Việt.
Một phát ngôn ngoài biểu hiện nghĩa sự tình hay còn gọi là nội dung thì còn biểu hiện thái độ, ý kiến của người nói gọi là nghĩa tình thái. Tình thái chủ quan của ngôn ngữ được phân ra làm hai loại là tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm [10]. Tình thái nhận thức biểu hiện nhận thức, sự đánh giá của chủ ngôn đối với sự tình được nêu trong lời, đó có thể là sự phỏng đoán, khả năng, xác nhận về một sự việc nào đó. Ví dụ: Chiều nay có lẽ trời mưa to.
Tình thái trách nhiệm là loại tình thái liên quan đến ý nguyện, mong muốn của người nói thể hiện qua phát ngôn nhằm đạt đến một hiệu quả giao tiếp nhất định. Tình thái trách nhiệm luôn gắn liền với lời, liên quan đến hành 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động ngôn từ và chỉ được bộc lộ trong những ngữ cảnh nhất định. Nghĩa tình thái liên quan đến hành động nhờ là tình thái trách nhiệm. Lời nhờ có cùng nội dung có thể có nhiều nghĩa tình thái khác nhau, phù hợp với trạng thái của chủ ngôn hoặc tiếp ngôn trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Ví dụ: - Đóng hộ tao cái cửa ngay đi. => Tình thái lời nhờ mang tính thúc giục - Anh ơi, đóng giúp em cái cửa với.=> Tình thái lời nhờ mang tính nài nỉ 1. Hành động ngôn từ 1. Sơ lược về hành động ngôn từ Hành động ngôn từ - Speech acts là khái niệm gắn liền với triết gia người Anh J.L Austin thông qua cuốn sách nổi tiếng ―How to do thing with words‖.
Austin quan niệm một cách đơn giản là để diễn tả một hành động ngôn từ thì cần phải nói ra điều đó và làm, nghĩa là khi ta nói xong có nghĩa là ta đã thực hiện xong hành động đó [26]. Chẳng hạn các hành động như đề nghị, thông báo, nhờ, khuyên, xin … chính là những hành động được thực hiện bằng ngôn từ và được gọi là hành động ngôn từ. Theo lý thuyết này, Austin coi hành động ngôn từ là một thể thống nhất của ba hành động liên quan đến nhau đó là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động dụng ngôn. - Hành động tạo ngôn (locutionary act) là hành động nói nhằm tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nội dung mệnh đề trong lời, từ đó nghĩa của lời được xác lập.
Đây còn được gọi là hành động tạo lời, Austin gọi là ―nói một điều gì đó‖. - Hành động ngôn trung (illocationary act) là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) như: trần thuật, hỏi, cầu khiến, làm nên ý nghĩa ngôn trung. Hành động này còn gọi là 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành động tại lời, hiểu đơn giản là nói một điều gì đó và thực hiện hành động của lời nói đó ngay khi phát ngôn được phát ra: Ví dụ: Lấy giúp chị cái bút. Hành động tại lời ở trên là lời nhờ người khác mang giúp cho chủ thể nói cái bút.
Hành động tại lời hay hành động động ngôn trung chính là lực ngôn trung, đích ngôn trung. Cùng một đích ngôn trung lại có thể thực hiện bằng những lời có lực ngôn trung ở các cấp độ khác nhau. Xét lại ví dụ trên và một ví dụ khác: Ví dụ: (1) Lấy cho chị cái bút. (2) Có lấy cái bút cho chị nhanh lên không thì bảo.
Ở lời (1) đích ngôn trung được thực hiện bằng lực ngôn trung nhẹ, mang tính cầu, khuyến khích người nghe thực hiện hành động, không quá bắt buộc. Nhưng ở lời (2) đích ngôn trung được thực hiện bằng một lực ngôn trung mạnh, mang tính khiến, áp đặt đe dọa người nghe phải thực hiện hành động. - Hành động dụng ngôn (perlocutionary act) là sự tác động vào tâm lý, hành vi người nghe một hiệu quả giao tiếp nhất định như: xúc động, yên tâm, bực mình,phấn khởi… Hành động dụng ngôn còn gọi là hành động mượn lời. Trên thực tế, một người có thể hiểu ngay được một hành động ngôn trung nhưng chưa chắc đã nhận ra ngay một hành động dụng ngôn.
Gây hiệu quả dụng ngôn có thể nằm ở hành động ngôn từ, cũng có thể nằm ở những cử chỉ phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ. Khi đó cử chỉ điệu bộ không nằm trong hành động ngôn từ. Một hành động ngôn trung có thể có nhiều hành động dụng ngôn khác nhau. Ví dụ: Một hành động ngôn trung là người nói muốn nhờ người nghe mang cho mình cốc nước thì hành động mượn lời có thể là các trường hợp sau: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com a/ Khát quá nhỉ! (Có thể kèm điệu bộ lè lưỡi) b/ Nhà có nước không anh? c/ Cho em cốc nước! Như vậy, theo tác giả Đào Thanh Lan trong [10], hành động tạo ngôn làm nên nghĩa sự tình của lời thì các hành động ngôn trung làm nên ý nghĩa tình thái của lời nói giúp cho sự phân biệt các lời nói với nhau.
Về mặt tổng quan, ý nghĩa của lời nói giống ý nghĩa của câu ở chỗ: nó cũng bao gồm hai nét nghĩa là nghĩa nội dung mệnh đề (nghĩa sự tình) và ý nghĩa tình thái. Trong trường hợp này, có thể dùng ký hiệu S (sentense) chung cho cả ý nghĩa của lời nói. Sơ đồ ý nghĩa của lời: S = M + P - S: Lời - M: Nghĩa tình thái thể hiện thái độ mục đích giao tiếp. - P: Nghĩa sự tình, nghĩa nội dung 1.
Phân loại hành động ngôn từ a. Phân loại theo J.R Searle Tổng hợp theo [10], Searle nêu ra tới 12 phương diện mà theo đó các hành động ngôn trung có thể khác nhau trong đó ông chọn ra 3 yếu tố cơ bản nhất để phân loại các hành động ngôn trung là: (1) Đích ngôn trung (2) Hướng khớp lời (mối quan hệ giữa ngôn từ và thực tại khách quan) (3) Trạng thái tâm lý được biểu hiện Theo các tiêu chí đó, Searle phân hành động ngôn từ ra thành 05 loại: (1) Biểu hiện: + Đích: phản ánh hiện thực. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Hướng: từ hiện thực đến lời nói. + Trạng thái tâm lí: tin vào nội dung sự tình.
(2) Chi phối + Đích: yêu cầu người nghe thực hiện một hành động. + Hướng: từ lời nói đến thực tiễn. + Trạng thái tâm lý: mong muốn. (3) Cam kết + Đích: gán trách nhiệm vào người nói thực hiện một hành động.
+ Hướng: từ lời nói đến hiện thực. + Trạng thái tâm lý: dự định. (4) Biểu cảm + Đích: biểu thị tình cảm. + Hướng: zêrô + Trạng thái tâm lý: giống đích.
(5) Tuyên bố + Đích: gây ra sự thay đổi hiện thực. + Hướng: từ lời nói đến hiện thực. + Trạng thái tâm lý: không rõ, có các yếu tố thể chế làm nên giá trị lời. Theo phân loại của J.Searle thì hành động cầu khiến thuộc loại chi phối (loại 2).
Từ loại 2 có thể phân ra làm hai tiểu loại.