CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ VÀ HÀNH ĐỘNG CẢM THÁN 1. Hành động ngôn từ 1. Khái niệm hành động ngôn từ Thuật ngữ hành động ngôn từ (speech act) do nhà triết học Anh là J.Austin khởi xướng và được một nhà triết học khác là J.Searle phát triển. Các tác giả này nhận ra rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà còn được dùng để thực hiện các hành động.
Chẳng hạn khi ai đó nói “Tôi cảm ơn…”, “Tôi xin lỗi…” thì những phát ngôn đó đã thực hiện hành động “cảm ơn” và “xin lỗi”. Tương tự ta có thể có các hành động: đề nghị, bác bỏ, tuyên bố, mời mọc, ra lệnh… Các hành động thực hiện bằng lời nói được gọi là hành động ngôn từ. Chúng ta chỉ có thể nhận diện ra hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn đó diễn ra. Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn.
Những hành động ngôn từ Trong giao tiếp, mỗi phát ngôn được tạo ra thường có 3 loại hành động. - Hành động tạo lời (locutionary act ) Hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn. Đó là hành động được thực hiện bởi sự vận động của các cơ quan phát âm (hoặc cử động tay để tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ và kết hợp các từ theo quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu…Nhờ vào hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa. Nếu gặp một trở ngại nào đó ở cơ quan phát âm hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc không nắm được các quan hệ cú pháp, cách thức tổ chức các biểu thức của một ngôn ngữ thì chúng ta không thực hiện được hoặc thực hiện không hoàn chỉnh hành động tạo lời.
- Hành động ở lời ( illocutionary act ) Đây là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra (viết ra). Chính cái đích này phân biệt các hành động ở lời với nhau. Hành động tại lời hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều người nói chưa rõ nên khác hành động ở lời hứa vì hứa có mục đích là (người nói) tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ thực hiện trong tương lai. Đích của hành động ở lời được gọi là đích ở lời nếu đích đó được thỏa mãn thì ta có hiệu quả ở lời.
Dấu hiệu của hiệu quả ở lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động tại lời (người nghe, người đọc). Cũng có những hành động ở lời có hiệu quả là một hành động mượn lời vật lí. Ví dụ: (1) A: Đem chén vào ăn cơm con! B: Dạ! Hiệu quả của hành động tại lời sai là việc đứa con thực hiện hành động mượn lời vật lí “đem chén”. - Hành động mượn lời ( perlocutionary act ) Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh.
Giả sử A tạo ra phát ngôn “Trời nóng quá!” thì hành động tạo lời của câu này là hành động phát ra câu đó với những từ ngữ có nghĩa và được sắp xếp theo một trình tự nhất định, hành động ở lời của câu này là một lời than về thời tiết “trời nóng” tại thời điểm phát ngôn, hành động mượn lời có thể là hành động bật quạt (mở cửa) của người nghe hoặc chỉ lặng yên không thực hiện yêu cầu đó. Ba thuật ngữ locutionary act, illcutionary act, và perlocutionary act được Hoàng Phê dịch là hành động phát ngôn, hành động dĩ ngôn và hành động dụng ngôn; Cao Xuân Hạo dịch là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn; Nguyễn Đức Dân dịch là hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Chúng tôi sử dụng cách dịch của tác giả Đỗ Hữu Châu. Ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời, hành động mượn lời được thực hiện theo cách thích hợp khi tạo ra một phát ngôn.
Hành động ở lời 1. Phân loại hành động ở lời Có hai hướng phân loại hành động ở lời: một của J.Austin và một của J. Ở đây chúng tôi xin trình bày kết quả phân loại của J.Searle đã phân ra 5 kiểu cơ bản của hành động tại lời như sau: - Hành động tuyên bố (declaration) Hành động tuyên bố là hành động người nói thực hiện nhằm làm thay đổi địa vị hoặc điều kiện bên ngoài của một đối tượng hoặc hoàn cảnh chỉ bằng cách tạo ra phát ngôn, như: từ bỏ, đặt tên, sa thải, khai mạc, … Đặc trưng của hành động tuyên bố là từ ngữ làm thay đổi thực tại, người nói gây ra tình huống. - Hành động biểu kiến (representative) Hành động biểu kiến là hành động thể hiện cái mà người nói tin tưởng.
Hành động này thể hiện ở những câu mà người nói phải chịu trách nhiệm về giá tri chân lí mà mệnh đề được biểu đạt. Nhóm biểu kiến có thể bao gồm các hành động như: khẳng định, quả quyết, phỏng đoán, miêu tả, thông báo, từ chối, tán thành, phản đối, giả định, gợi ý, tranh cãi, hưởng ứng, giải thích,… Đặc trưng của hành động biểu kiến là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói tin vào tình huống. - Hành động biểu cảm (expressive) Với hành động này, người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong nội dung mệnh đề, như xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh. Đặc trưng của hành động biểu cảm là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói cảm thấy tình huống.
- Hành động cầu khiến (directive) Đây là hành động mà người nói nhằm làm cho người nghe thực hiện điều gì đó, chẳng hạn: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, nài ép, thỉnh cầu. Đặc trưng của hành động cầu khiến là làm thực tại khớp với từ ngữ, người nói muốn tình huống xảy ra. - Hành động ước kết (commissive) Người nói cam kết một hành động tương lai nào đó, chẳng hạn: bảo đảm, hứa hẹn, cam đoan, thề, tuyên thệ. Đặc trưng của hành động ước kết là làm thực tại khớp với từ ngữ, người nói dự định tình huống.
Searle phân loại hành động trên dựa vào các tiêu chí cơ bản sau: - Đích ở lời: Đích ở lời của một hành động ngôn từ là mục đích của hành động đó. Chẳng hạn đích ở lời của hành động hứa hẹn là tự gán trách nhiệm tinh thần về sự thực hiện việc gì. Đó là điều kiện thiết yếu của hành động hứa hẹn. Đích ở lời không trùng với hiệu lực ở lời.
Hai hành động khác nhau có thể cùng một đích ở lời nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau.Searle nêu ví dụ sau: Hai hành động ra lệnh và thỉnh cầu đều cùng một đích ở lời là người nghe sẽ nhận thực hiện (hoặc không thực hiện) một việc gì đó nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau, ra lệnh là bắt buộc còn thỉnh cầu thì chỉ kêu gọi sự thiện chí của người nghe mà thôi. - Hướng khớp ghép giữa từ ngữ với thực tại: Hướng khớp ghép là mối quan hệ giữa từ ngữ và thực tại mà hành động đề ra. Hướng khớp ghép có thể được xây dựng theo hai chiều: từ từ ngữ tới thực tại hoặc từ thực tại tới từ ngữ. Chẳng hạn trong cầu khiến hoặc trong ước kết, hướng khớp ghép là từ từ ngữ tới thực tại, nghĩa là lời có trước, sau đó hành động mới thực hiện sao cho phù hợp với lời.
Trong hành động biểu kiến và biểu cảm, thì thực tại có trước, lời nói phải làm sao cho phù hợp với thực tại. - Trạng thái tâm lí được thể hiện : Mỗi kiểu hành động ở lời ứng với sự thể hiện trạng thái tâm lí nhất định. Trong hành động biểu kiến, trạng thái tâm lí của người nói là phải có lòng tin vào mệnh đề được nói ra. Với cầu khiến, trạng thái tâm lí là mong muốn người nghe thực hiện hành động.
Trong hành động biểu cảm, trạng thái tâm lí phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ cụ thể (thể hiện sự vui sướng, mừng rỡ hay thất vọng v. Trong hành động ước kết, trạng thái tâm lí của người nói là định làm cái gì đó. Mỗi hành động ở lời muốn thực hiện được phải có những cơ sở, những ràng buộc nhất định. Cảm thán là một hành động ở lời thuộc loại hành động biểu cảm.
Cho nên tiếp sau đây, chúng tôi xin đề cập đến những điều kiện sử dụng các hành động ở lời. Các điều kiện sử dụng hành động ở lời Con người ta khi thực hiện bất cứ hành động nào cũng phải hội đủ những điều kiện nhất định mới có được kết quả như mong muốn, dù đó là hành động vật lí giản đơn như rọc giấy (có giấy, có dao (đủ sắc), có nhu cầu rọc giấy…). Vì cũng là hành động, hơn nữa lại là hành động xã hội nên hành động ở lời cũng có những điều kiện thích hợp mới thực hiện được và mới có hiệu quả. Mỗi hành động ở lời: kêu, chào, xin lỗi, mời, cầu xin, hứa, bảo,…đều có điều kiện riêng.
Trong những điều kiện riêng của mỗi hoạt động ở lời khác nhau, J.Searle đã tìm ra những điểm chung mà J.Austin gọi chúng là những điều kiện thuận lợi (felicity conditions). - Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện liên quan đến cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa của nội dung mệnh đề. Điều kiện này chỉ ra nội dung hoạt động ở lời, chẳng hạn đối với hành động hứa và hành động cảnh báo thì nội dung của phát ngôn phải nói về một sự kiện tương lai, hành động hứa đòi hỏi cái sự kiện tương lai đó sẽ là hành động của người nói. - Điều kiện chuẩn bị: Điều kiện này liên quan tới những hiểu biết của người thực hiện hoạt động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, về trách nhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành động.
Cũng thuộc điều kiện chuẩn bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với hành động ở lời mà mình đưa ra. - Điều kiện tâm lí: Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra.