CHƯƠNG 1 : NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG Ở LÀO 1. Địa lý tự nhiên ở Lào 1. Vị trí địa lí “Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là một nước ở Đông – nam châu Á, nằm ở phía tây bán đảo Đông Dương, tiếp giáp với năm nước : đông giáp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nam giáp Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia, tây giáp Vương quốc Thái Lan, tây – bắc giáp Miến Điện và bắc giáp Trung Quốc”.[10;5] Lào là quốc gia nội địa duy nhất ở Đông Nam Á, hầu hết lãnh thổ nằm giữa vĩ độ 14 độ và 23 độ Bắc, và kinh độ 100 độ 108 độ Đông. “Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển.
Phía Bắc giáp Trung Quốc khoảng 505 km; phía Tây Bắc giáp Mi-an-ma khoảng 236 km; phía Tây Nam giáp Thái Lan khoảng 1.835 km; phía Nam giáp Campuchia khoảng 535 km và phía Đông giáp Việt Nam khoảng 2.”,[21] nhưng nước Lào lại có con sông Mê Công - sông lớn nhất Châu Á và đứng hàng thứ 8 trên thế giới. Con sông Mê Công chảy dọc suốt từ bắc xuống nam, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ở độ cao khoảng 3000m, chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và đổ ra Biển Đông. Bởi vậy, Lào có nhiều đầu mối giao thông quan trọng. Lào nằm ở trung tâm vùng Đông – nam châu Á, là nơi giao lưu của các nền văn hóa đông, tây.
Lào có diện tích 237.000 ki-lô-mét vuông, nằm từ vĩ tuyến 14 độ bắc đến vĩ tuyến 22 độ bắc, dài trên một ngàn ki-lô-mét, tính từ điểm địa đầu phía bắc ở Nhọt U tới Lì Phỉ là điểm tận cùng phía nam. Với diện tích đó, nước Lào rộng gần bằng nước Anh, bằng 3 phần 5 Nhật Bản. Đối với khu vực Đông- nam châu Á, Lào là nước trung bình, sau In-đô-nê-xi- a, Thái Lan, Việt Nam, Phi-Líp-Pin,…. 7 c Hiện nay Lào chia thành 17 tỉnh và thủ đô Viêng Chăn.
Các tỉnh lại chia thành các huyện (muang). Thành phố Viêng Chăn chia thành các quận. Nước Lào đại thể gồm ba vùng : Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào. Mỗi vùng có những nét đặc sắc riêng.
Thượng Lào gồm các tỉnh: Oudomxay, Xayabury, Xiengkhuang, Huaphanh, Bokeo, Phongsaly, Luangnamtha, Luangprabang. Trung Lào gồm các tỉnh thành: Thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Viêng Chăn, Borikhamxay, Khammuane, và Savannakhet. Hạ Lào gồm 4 tỉnh: Attapeu, Saravane, Sekong, Champasack. Địa hình Địa hình Lào chủ yếu là núi và cao nguyên với dãy Trường Sơn ở phía đông bắc và phía đông, dãy Luangprabang ở phía tây bắc.
Các dãy núi khác có đặc trưng chủ yếu là địa hình dốc. Địa hình đồi núi trải dài khắp miền bắc đất nước trừ đồng bằng Viêng Chăn, cánh đồng Chum, cao nguyên Xiêng Khoảng. Phía tây nam ở các tỉnh Savannakhet, Champasack có diện tích đồng bằng lớn. Địa hình Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.
Diện tích còn lại là bình nguyên và cao nguyên. Sông Mê Công chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông giáp với Việt Nam. Địa hình Lào có sự phân hóa khác biệt giữa Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào với những đặc điểm độc đáo : Thượng Lào “ Phần lớn là vừng rừng núi trùng điệp, tuy nhiên cũng có những cánh đồng lớn như cánh đồng tỉnh Mường Xính ( Luông Nậm Thà ), Xiêng Khọ ( Hủa Phăn ), Bản Ban ( Xiêng Khoảng ), các đồng bằng phì nhiêu như đồng bằng Xay-a-bu-ri, Viêng Chăn; những thung lũng màu mỡ như Nậm Thà, Nậm Bạc…” [10;8] 8 c “Ở Thượng Lào, nổi bật lên một vùng cao nguyên, đó là cao nguyên Mường Phuôn ( tỉnh Xiêng Khoảng ) mà người ta thường gọi là cao nguyên Cánh đồng Chum…Cao nguyên này là một địa bàn chiến lược có tầm quan trọng đối với toàn Đông Dương.” [10;8] Trung Lào “ Có cao nguyên Na-cay, cao nguyên thứ hai của Lào, giàu nhất về thú rừng và là nơi có điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi…Dưới chân cao nguyên là cánh đồng Ma-ha-xây rộng lớn.”[10;9] “Ở Xa-vằn-na-khẹt, có cánh đồng Kèn-cooc phì nhiêu, là nơi tập trung cư dân nông nghiệp, là một trong những vựa lúa của Lào”.[10;9] Hạ Lào “ Người ta thường nhắc đến cao nguyên nổi tiếng Bô-lô-ven. Cao nguyên này nằm giữa các tỉnh Xa-ra-van, Át-ta-pư, Chăm-pa-xắc.
Đây là một cao nguyên đất đỏ hết sức phì nhiêu và màu mơ; khí hậu ở đây dễ chịa; quanh năm cây lá, hoa cỏ xanh tươi. Ở Trung và Nam Lào, có dãy Trường Sơn nằm về phía đông, là biên giới thiên nhiên giữa hai nước Lào – Việt Nam. Tài nguyên thiên nhiên Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện. Các nguồn tài nguyên được xem như một phương tiện thúc đẩy 9 c Lào trở thành nước có ảnh hưởng trong tương lai, đồng thời buộc các nước khác phải chú ý tới họ.
Dưới thời Pháp thuộc (1893 – 1945), nước Lào được nhắc đến là một xứ sở giàu tài nguyên nhiên nhiên có các cánh rừng nhiệt đới với các loại gỗ quí như trắc, tếch, lim, táu, gụ…có thể phục vụ cho các ngành xây dựng dân dụng, đóng tàu và làm tà vẹt đường sắt; rừng thông cận ôn đới (ở cao nguyên Hủa Phăn - Sầm Nưa và cao nguyên Mường Phuôn - Xiêng Khoảng) cung cấp các loại cánh kiến tốt nhất cho thị trường thế giới. “Đất nước Lào là đất nước của màu xanh với núi rừng trùng điệp. Núi rừng chiếm đến 80% diện tích, phần lớn nằm ở phía bắc và phía đông.”[10;6] “Rừng Lào là cả một kho báu vật, có nhiều loại gỗ và lâm sản. Ngoài các loại gỗ thông thường, Lào còn có nhiều loại gỗ quý.
Ở Xay-a-bu-ri có những cánh rừng gỗ tếch, một loại gỗ quý vì tính chất bền chắc của nó. Loại gỗ này thường được dùng trong công nghiệp đóng tàu xây dựng và giao thông”. [10;6] Ngoài ra rừng Lào còn có loại gỗ mặn – pà ; thường làm trụ cầu, xây dựng chùa chiền, hàng trăm năm không hề mọt ruỗng. “ở tỉnh Khăm Muộn và Xa-vằn-na-khẹt có những cánh rừng mạy-pươi ( cây săng lẻ ) bạt ngàn.
Loại cây này cũng là một nguyên liệu cần thiết trong xây dựng nhà cửa. Người Lào thường đục thân cây may-pươi lớn để làm thuyền”.[10;6] Rừng Lào mang lại cho người dân những nguồn lâm sản hết sức đa dạng phong phú và quý giá trong đó là cánh kiến. “Lào là nước có nhiều cánh kiến nhất ở Đông Nam Á ; Hủa Phăn là một trung tâm sản xuất cánh kiến. Sản lượng cánh kiến trắng hàng năm của Lào tới hàng trăm tấn, cánh kiến đỏ khoảng một nghìn tấn”.[10;7] “Ở Thượng Lào, trên những vùng cao người ta còn trồng cây thuốc phiện; trước đây hàng năm Lào có thể sản xuất tới 100 tấn thuốc phiện”.
[10;7] Ngoài ra, rừng Lào còn có sa nhân, bạch đậu khấu, đinh 10 c hương,…Các thứ lâm sản thông dụng như tre, nứa, song, mây ở địa phương nào cũng có. Với những cánh rừng nhiệt đới rộng lớn và bạt ngàn như vậy ở Lào tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài động vật: “Người Lào thường nói : ra khỏi bản làng là gặp thú rừng. Ngoài những loài thú rừng như hổ, báo, vượn, khỉ, hươu, nai,…rừng Lào còn có nhiều voi với bò rừng”.[10;7]Từ lâu cư dân Lào đã biết thuần dưỡng voi, voi như người bạn đồng hành với người dân Lào từ ngàn xưa, họ dùng voi để săn bắt, vận tải hàng hóa. Ngoài ra : “ Quốc gia này may mắn có những nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, trong đó có hệ thống sông ngòi với con sông Mènam Khong (Sông Mẹ) chạy dọc theo biên giới giữa Thái Lan và Lào là một phần của hệ thống sông Mê Công.
Trong mấy năm qua, với giấc mộng trở thành “Bình ắc quy của châu Á”, chính phủ Lào đã cho phép xây dựng hàng chục dự án đập thủy điện ngang dọc hệ thống sông ngòi của họ với sự tài trợ của ngoại quốc, trong đó có đập Xe-Namnoy nằm ở một phụ nhánh của sông Mê Công.”[23] “Về khoáng sản, Lào có nhiều loại khoáng sản quý như vàng, thiếc, sắt, chì, đồng, than, ăng-ti-moan, man-gan…Riêng hai mỏ sắt ở Xiêng Khoảng có trữ lượng hàng trăm triệu tấn. Ngoài ra còn có nhiều mỏ muối, phèn chua, lưu huỳnh… Mỏ muối ở Bản Cơn hàng năm có thể sản xuất từ 5000 đến 7000 tấn. Ở Lào còn có nhiều mỏ vàng nằm rải rác trên các khu vực Át-ta-pư, Khăm Muộn, Mường Phuôn, Luông Pha-băng. Ở thung lũng Nậm Pa-ten thuộc tỉnh Khăm Muộn có thiếc rất lớn, thực dân Pháp trước đây đã từng khai thác vùng này”.
[10;7]Đặc biệt vùng Trung Lào nổi tiếng với mỏ thiếc Phông Tịu, Bò Nèng thuộc tỉnh Khăm Muộn. “Lào là một nước có nhiều khoáng sản, một cuộc thăm dò sơ sài nhất cũng đã phát hiện rằng dưới đất Lào có rất nhiều thiếc, đồng vàng, có lẽ cả 11 c dầu hỏa nữa. Một cuộc thăm dò địa chất khác đã phát hiện được Angtimoan Tungxten, than đá, kẽm, chì, boxits…‟.[2;253] Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Lào là một trong những trụ cột kinh tế trong tiềm lực phát triển của Lào: „Chính phủ Lào xem việc khai thác những nguồn tài nguyên và đất đai là trụ cột của nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và mang lại nguồn thu quan trọng”.[22] Lào là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên, chính vì vậy là mục tiêu dòm ngó của các quốc gia phương tây đặc biệt là Pháp trong thời kì Pháp thuộc, chính vì yếu tố này Pháp đã có những hành động chính sách nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên của Lào trong thời kì đô hộ để phục vụ cho nhu cầu nguyên liệu của chính quốc một trong số đó là chính sách đầu tư vào giao thông vận tải ở Lào của Pháp. Khí hậu Lào nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới với đặc trưng là mùa mưa và mùa khô.
“Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô mát từ tháng 11 đến tháng 4; nhiệt độ ở Viêng Chăn có thể xuống đến hơn 10 oC; các vùng núi cao có lúc nhiệt độ xuống rất thấp đến mức có băng giá, Xiengkhuang hay Phongsaly vào khoảng tháng 1 có lúc xuống đến 5oC. Mùa khô nóng từ tháng 3 đến tháng 4. Vùng ven sông Mê Công ở Hạ Lào vào mùa khô nóng có thể có lúc nhiệt độ lên tới 40oC”.
[19]Theo truyền thống của địa phương thì một năm có ba mùa là mùa mưa, mùa lạnh, mùa nóng, do hai tháng cuối mùa khô nóng hơn đáng kể so với bốn tháng trước đó.