CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ Ý THỨC CHÍNH TRỊ 1. Ý THỨC VÀ Ý THỨC CHÍNH TRỊ 1. Ý thức Trong lịch sử triết học, vẫn dé nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đầu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác - Lênin góp phần làm sáng tö những vấn đề trên.
Nguồn gốc của ý thức: Có thê khái quát ý thức có hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Nguồn gắc tự nhiên Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức sinh ra vật chất, chỉ phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất. Học thuyết triết học duy tâm khách quan và triết học duy tâm chủ quan có quan niệm khác nhau nhất định về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ tách ý thức ra khỏi vật chat, lay ý thức làm điểm xuất phát dé suy ra giới tự nhiên. Các nhà duy vật trước Mác đã đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của chủ nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên cúa ý thức, đã chỉ ra mỗi liên hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức, thừa nhận vật chất có trước.
ý thức, ý thức phụ thuộc vào vật chất. Do khoa học chưa phát triển, do ảnh hưởng của quan điểm siêu hình - máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức. Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vat it nhu các nhà thần học và duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức.
Ý thức là chức năng của bộ óc con người. Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, đo đó khi bộ óc bị tốn thương thì hoạt đông của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. Ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thân kinh của bộ óc người.
Khoa học đã xác định, con người là sản phẩm cao nhất của quá trình phát triển từ thấp đến cao, tử đơn gián đến phức tạp của vật chất vận động, đồng thời đã xác định bộ óc của con người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tỉnh vi và phức tạp bao gồm khoảng 14 - 15 ty té bao than kinh. Các tế bào này có liên hệ với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mỗi liên hệ thu nhận, điều khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ không điều kiện và có điều kiện. Quá trình ý thức và quá trình sinh lý trong bộ óc không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặt của một quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức. Nhưng tại sao bộ óc con người - một tổ chức vật chất cao - lại có thể sinh ra được ý thức? Đề trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghiên cứu mỗi liên hệ vật chất giữa bộ óc với thể giới khách quan.
Chính múi liên hệ vật chất ấy hình thành nên quá trình phản ánh thé giới vật chất vào óc con người. Phản ánh là thu tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động).
Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Đây là điều quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên củaý thức. 10 Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất. Các vật thẻ càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giởi tự nhiên vô sinh là những phản ánh vật lý, hóa học.
Những hình thức phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn. Hình thức phán ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên sống là bước phát triển mới vẻ chất trong sự tiến hóa. của các hình thức phản ánh. Hình thức phản ánh của các cơ thể sống đơn giản nhất là biểu hiện ở zính kích thích, tức là phản ứng trả lời tác động của môi trưởng ở bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đối chất của chúng.
Hình thức phản ánh tiếp theo của các động vật chưa có hệ thần kinh là tính cám ứng. tính nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường. Hình thức phản ánh của các động vật có hệ thông thần kinh là các phản xạ. Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuất hiện là :âm lý.
Tâm lý động vật chưa phải là ý thức, nó mới là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chỉ phối Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thé giới hiện thực, Ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con người. Ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con ngưi Như vậy, ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh - phát triển thành. Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất. Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh.
Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người. Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thẻ xảy ra. "1 Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh về iới vật chất xung.
quanh) cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự. nhiên của ý thức. Những điều đã trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vỉ hết sức hạn cl trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vẫn để nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghỉ ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối” [16. Ý thức chính là đặc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao mà thôi [10, tr.
Nguén géc xa hi Để cho ý thức ra đời, những tiền để, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng. không thể thiểu được, song chưa đủ; điểu kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền để, nguồn gốc xã hội. Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao đông, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội. Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, là một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điểu tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên.
Lao động là điểu kiện đầu tiên và chủ yếu dé con người tổn tại. Lao động cung cấp cho con người những phương. tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người. Nhờ có lao động, con người tách ra khỏi giới động vật.
Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con người với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong giới tự nhiên, còn con người thì nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình, thay đổi nó, bắt nó phục tùng những nhu cầu của mình. Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo 12 thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thể giới đó. Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là kết quả hoạt động chủ động của con người. Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ấy tác động vào bộ óc người.
hình thành dẫn những tri thức về tự nhiên và xã hội. Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người, làm biến đối thé giới đó. Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động làm biến đối thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra ý thức tư tưởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thé giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao đông của con người.
Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính tập thể xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau xuất hiện. Chính nhu câu đó đòi hoi xuất hiện ngôn ngữ. Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thẻ hiện được. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực.