mở đầu, luận văn chú trong làm rõ lí do chon dé tai; phát biểu vấn để nghiên cứu; xác định được mục đích nghiên cứu. Luận văn đặt vấn để bằng 3 câu. hỏi nghiên cứu. Trên cơ sở đó, luận văn xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu; dự kiến các phương pháp nghiên cứu cho dé tải.
Đồng thời, chúng tôi cũng nêu được giả thuyết khoa học của đề tài; làm rõ những đóng góp của đề tài đối với yêu iu cấp thiết về đánh giá trong giáo dục nói chung và trong môn Toán lớp $ nói riêng. Cuối củng chúng tôi xây dựng cấu trúc cho luận văn. Chương2 TONG QUAN CAC VAN DE NGHIEN CUU CÓ LIÊN QUAN 2.1, Nền tăng lich sir 2. Các nghiên cứu của thể giới về đánh giá và phát triển năng lực đánh giá cho.
giáo viêm Trên thể giới đã có nhiều công trình nghiên cứu vẻ lý thuyết đo lường, đánh giá trong giáo dục, đặc biệt phát triển mạnh ở Hoa Kỳ và Anh. Các ấn phẩm liên quan đến vấn đề được phát hành rộng rầi và thường xuyên hiệu đính, tái bản hằng. năm, được nhiều nước trên th giới đón nhận đẻ sử dụng và tham khảo. Hệ thống lý luận về giáo dục, lý luận về kiểm tra, đánh giá được nhiều tác giả ở nước ngoài nghiên cứu và hoàn thiện từ rất sớm.
Hệ thống lý luận hiện đại về đánh giá có nhiều tư tưởng khác nhau và thường được trình bày thống nhất với hệ thống lý luận về hoạt động dạy học. Đề cập đến cơ sở lý luận về CCĐG, có thể kế đến quan điểm của Rowntree (1987): Mục đích của "đánh giá” (Assessment) là nhằm đánh giá thành tích, năng lực và sự tiến bộ của người học; "đánh giá” (Evaluation) bao hàm luôn cả những. yếu tổ của hoạt động đạy học có tác động đến chắt lượng học tập. [Dẫn theo 25] Thời kì tiễn tư bản chủ nghĩa (TK XV- XVIII) lẫn đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới nhà giáo Tiệp Khắc J.
Komensky (1592 ~ 1670) đã đặt nền móng cho. ý luận dạy học nhà trường và xây dựng thành một hệ thống vấn để trong tác phẩm *Lý luận day hoe vĩ đại”, trong đó nêu ý nghĩa, vai trò kiểm tra, đánh giá quá trình Tĩnh hội tr thức của HS, lưuý việc kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn HS kiểm tra, đánh giá kiến thức cơ bản. [Dẫn theo 8, tr.6] Về sau các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã phân tích và phát triển lý luận kiếm tra, đánh giá ở các góc đô khác nhau. Ở thé ki XVIII, nha giéo dục người Đức LB.Bazeio (1724- 1796) là người đầu tiên để xuất một hệ thống đánh giá trong, trường học.
Hệ thống đánh giá của ông được chia thành 12 bậc, nhưng khi áp dụng chỉ có 3 bậc: tốt= trung bình - kém. Cách đánh giá này đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nưc „ đặc biệt là nước Nga. [Dẫn theo 8, r6] ‘Cho t6i những năm 20, 30 của thế ki XX, Ralph Tyler (1902-1994) đã nhắn mạnh đến. tằm quan trọng của việc kiểm ta, đánh giá: "Quá trình kiểm ra, đánh giá chủ yếu là quá 'rình xác định mức độ thực hiện mục tiêu trong quá trình dạy học”.
[Dẫn theo 27, tr.13] 3 Nam 1910, Rotxotimo đã đưa ra phương pháp: * Trắc nghiệm tâm lý”, phương pháp này sau đó được địch sang tiếng Đức và được chú ý nhiều ở Tây Âu và Mĩ. Ở Mỹ, trắc nghiệm đã được các nhà tâm lý học, giáo dục học đặc biệt chú ý. cũng là hệ thống đánh giá đầu tiên được áp dụng phổ biến trong nhả trường. (Dẫn theo 8,tr7] Năm 1969, NAEP (National Assessment of Educational Progress - dinh giá quốc gia về chương trình giáo dục của Hoa Kỳ) được sử dụng như là nguồn thông.
tn về kiến thức và kỹ năng sinh viên ở Hoa Kỳ trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau mà nó đánh giá. Từ năm 1969, đánh giá đã được tiến hành định kỳ, cung cắp cho các nhà giáo dục và các nhà hoạch định chính sách tổng quan về thành tựu và xu hướng dựa vào sự thay đổi từ các đánh giá trước đó. Nó đề cập đến kiến thức và kỹ năng thường thấy trong các chương trình giảng dạy và các tải liệu giáo trình quốc gia, bao gồm cá chủ đề cụ thể và kỹ năng suy nghĩ rộng. Các đánh giá được thực hiện đổi với HS lớp 4, 8 và 12.
Ở lớp 4 và lớp 8, lĩnh vực được đánh giá bao gồm: đọc, viết, toán học và khoa học. Đánh giá cho phép so sánh thành tích của HS với mục tiêu quốc gia và với thành tích trung bình của HS ở các bang khác và dân tộc khác. [37] Năm 1990, Liên đoàn GV Mỹ, Hội đồng thắm định giáo dục Quốc gia và Hiệp hội giáo dục quốc gia đã xây dựng bảy tiêu chuẩn đánh giá giáo dục cho GV. Các tiêu chuẩn đó là - GV cần có kĩ năng lựa chọn lựa PPĐG phủ hợp với những quyết định giảng dạy.
~ GV cần có kĩ năng trong việc xây dựng PPĐG phù hợp với các quyết định giảng dạy. ~ GV cần có kĩ năng quản lí, đánh giá bằng điểm số, liễn giải các kết quả của những PPDG bên ngoài và bên trong do GV sáng tạo ~ GV cần có kĩ năng trong việc sử dựng kết quả đánh giá khi ra quyết định về cá nhân HS, lên kế hoạch giảng dạy, xây dựng chương trình và cải thiện trường học. ~ GV cần có kĩ năng trong việc phát triển tiến trình phân loại HS một cách hợp lí qua đánh giá. ~ GV cần có kĩ năng trong việc thông báo kết quả đánh giá cho HS, phụ huynh, các đối tượng ngoài ngành và các giáo dục khác 4 ~ GV cần có kĩ năng nhận ra các PPĐG và mục đích sử dụng kết quả trái với đạo đức, pháp luật hoặc không phủ hợp.
[Dẫn theo 8, tr7] 'Vào năm 1995, TIMSS lan dau tiên được thực hiện trong tổng số 41 quốc gia ở ba cấp độ khác nhau: lớp 4, 8, 12 của bậc trung học. TIMSS là Xu hướng nghiên cứu khoa học và toán học quốc tế được tiến hành bởi Hiệp hội Quốc tế về Đánh giá về thành tựu giáo dục (IEA), mae dù đó là những đánh giá đầu tiên mà hai lĩnh vue đã được tiễn hành cùng nhau. TIMSS ban đầu có ba nhóm HS và ba đánh giá [38] Năm 1997, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và phát triển OECD đã khởi xướng. Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA.
PISA là một hệ thống đánh giá quốc tế tập trung vào khả năng doe, kỳ năng Toán và khoa học của HS ở lứa tuổi 15. PISA được OECD thye hiện đánh giá 3 năm một lẫn. Trong chương trình đánh giá này, dé thi chủ trọng đến các tình huồng phát sinh trong thực tiễn, liên quan đến kiến thức ở phổ thông đã học. PISA giúp cho các quốc gia tham gia có cơ hội nhìn nhận một cách khá toàn điện về những “kỹ năng cơ bản”, “năng lực cá nhân” mà HS quốc gia họ đạt được, để từ đó đưa ra chính sách mới nhằm phát triển giáo dục một cách bền vững, Việt Nam tham gia đánh giá PISA năm 2012.
[39] 'Vấn đề đánh giá, phát triển NLĐG cho GV được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tắt cả các tác giả đều nhắn mạnh ý nghĩa và lầm quan trọng của đánh giá trong dạy học. Đồng thời nhắn mạnh phải từng bước xây dựng, hoàn thiện cơ sở lí thuyết, cơ sở thực tiễn và quy trình đánh giá kết quả trong dạy học. Các nghiên cứu ở Việt Nam về đánh giá và phát triển năng lực đánh giá cho. Các vấn bản chỉ đạo về đánh giá của Bộ GD&ĐT" Thue hiện Luật Giáo dục Việt Nam, trong quá trình xây đựng khung chương trình và chương trình giáo dục phổ thông, Bộ GD&ĐT rất chú trọng khâu đánh giá.
Bộ đã ban hành nhiều văn bản về đánh giá, xếp loại HS, và khẳng định kiểm tra, đánh giá là khâu rất quan trọng trong quá trình dạy và học. “Công tác chỉ đạo kiểm tra đánh giá của Bộ GD&ĐT thông qua hệ thống văn bản sau: ~ Quyết định số 30/2005/QĐ Bộ GD&ĐT ngày 30-09-2005 ban hành Quy. định ĐG xếp loại học lực, hạnh kiểm HSTH ~ Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27/10/2009 ban hành Quy định 15 đánh giá, xếp loại HSTH, khẳng định việc đổi mới đánh giá khá hoàn thiện, thể hiện triết lí, quan điểm rắt riêng về cấp học này. Nguyên tắc đánh giá xếp loại được nêu.
trong Thông tư là công khai, công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện. Việc đánh giá với HSTH chủ yếu là động viên, khuyến khích cho sự tiến bộ của các em, không gây áp lực cho cả GV và HS. Sự kết hợp đánh giá định lượng (điểm số) và đánh giá định tính (nhận xét), kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS, kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá định kì nhằm mang lại kết quả đánh giá đẩy đủ, toàn điện, thể hiện tính nhân văn của giáo dục tiểu học. Điểm mới của ‘Thong tư 32 là coi trọng đánh giá cuối năm học, vì đặc điểm kiến thức và kĩ năng ở tiểu học cấu trúc theo đường thẳng nên bài kiểm tra cuối năm là điều kiện cần và đủ để đánh giá khả năng nắm vững kiến thức, kĩ năng của HS ở mỗi lớp.
~ Những năm gần đây, song song với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa là việc đổi mới PPDH va đánh giá kết quả học tập của HS. Đặc biệt, hoạt động đánh giá hết quả của HS cảng được chú trọng. Thông tư 30/2014/TT/BGDDT ban hành quy định đánh giá HSTH là một dấu mốc quan trọng thay đổi căn bản về mục đích đánh giá, nguyên tắc đánh giá, nội dung đánh giá HSTH, đặc biệt là cách thức đánh giá HSTH Nguyên tắc đánh giá: đánh giá sự tiến bộ và vì sự tiến bộ của HS, giúp HS phát huy nội lực, tiềm năng của mình, không so sánh HS này với HS kh „ không tạo áp lực cho HS, GV và cha me HS. Nội dung đánh giá: đánh giá toàn diện quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của HS theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của HS, “Cách đánh giá đánh giá thường xuyên trong quá trình học (chỉ nhận.
xét, không dùng điểm số) và đánh giá định kì cuối học kì I và cuối năm học (dùng. cả điểm số và nhận xé).