Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP HÌNH SỰ 1. Khái niệm, nguyên tắc, chủ thể, nội dung của giám định tư pháp hình sự 1. Khái niệm giám định tư pháp hình sự Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Nhà xuất bản từ điển bách khoa xuất bản năm 2007 thì giám định là việc “xem xét và quyết định” và ở khía cạnh pháp luật “giám định” mang nghĩa “dùng khả năng chuyên môn xem xét và cho ý kiến để tòa phân xử”, còn “tư pháp” được hiểu là “nhiệm vụ giữ gìn sự tôn trọng luật pháp của một nước, tức việc tòa án thay mặt nhân dân mà truy tố những kẻ phạm tội và do đơn kiện mà xét xử những vụ tranh chấp”. Tùy thuộc vào tính chất, cách thức và đặc biệt là mục đích của giám định mà trên thực tế còn có rất nhiều loại giám định khác như giám định chất lượng công trình xây dựng Nhà nước (đánh giá, kiểm định chất lượng công trình xây dựng do Nhà nước làm chủ đầu tư để nghiệm thu, trước khi đưa công trình đó vào sử dụng…); giám định hàng hoá để đánh giá, kiểm định chất lượng hàng hoá khi xuất, nhập khẩu; giám định y khoa để xác định mức độ hao tổn sức khoẻ, khả năng lao động của người lao động, thương bệnh binh phục vụ cho việc giải quyết các chế độ xã hội, cũng là việc giám định của chính các tổ chức giám định tư pháp (chữ viết, chữ ký, giấy tờ, văn bản, chứng chỉ…) để phục vụ cho hoạt động thanh tra, công chứng, ngân hàng… Giám định tư pháp là từ ghép, kết hợp nghĩa của giám định và tư pháp, nên trước hết giám định tư pháp có tính chất của giám định nói chung là sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá và đưa ra ý kiến của nhà chuyên môn về một vấn đề thuộc phạm vi 6 chuyên môn nhưng với mục đích phục vụ cho việc giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự - điểm này làm nên sự khác biệt giữa giám định tư pháp với các loại giám định khác.
Qua tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy, với một số nước có mô hình tố tụng thẩm vấn thì phạm vi giám định tư pháp thường được xác định bởi chủ thể trưng cầu giám định là các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, tùy thuộc vào thiết chế tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp của mỗi nước, vì: mô hình tố tụng thẩm vấn đề cao vai trò chủ động của người tiến hành tố tụng, nhất là thẩm phán (thẩm phán điều tra, thẩm phán xét xử). Người tiến hành tố tụng là người đưa ra quyết định điều tra khi xảy ra một vụ án nào đó, đồng thời cũng là người có trách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ sở các sự việc, chứng cứ. Do đó, việc trưng cầu giám định với tư cách là một biện pháp thu thập chứng cứ luôn chỉ thuộc về chủ thể tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng không có quyền tự mình yêu cầu giám định như một cách thức thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như trong tố tụng tranh tụng, cho dù trong tố tụng dân sự, hành chính thì nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về đương sự. Bên cạnh đó, một số nước có mô hình tố tụng tranh tụng thì cho rằng, giám định tư pháp là một biện pháp thu thập chứng cứ dành cho các bên của tố tụng, nên việc giám định được thực hiện không chỉ theo trưng cầu của phía tiến hành tố tụng là các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền mà còn cả theo yêu cầu của người tham gia tố tụng miễn là nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án, kết luận giám định đó được xem xét, đánh giá và sử dụng làm căn cứ cho việc phán xét của tòa án; thậm chí, ở một số nước đề cao tính tranh tụng và dân chủ trong tố tụng thì người tham gia tố tụng có thể tự mình yêu cầu giám định, xuất trình kết luận giám định và có quyền yêu cầu và mang theo người đã thực hiện giám định cho mình xuất hiện trước tòa với tư cách là nhân chứng 7 chuyên môn của mình, nhằm đối trọng lại với kết luận giám định của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc phía đương sự còn lại, để phục vụ cho việc tranh tụng tại phiên tòa.
Trong tố tụng tranh tụng thì trách nhiệm trình bày chứng cứ thuộc về các bên, đòi hỏi các bên phải có trách nhiệm đưa chứng cứ, trong đó có kết luận giám định ra trước Toà. Điều đó khuyến khích và buộc các bên phải tận dụng hết mọi cơ hội hay khả năng để tìm tòi, đưa ra những chứng cứ thuyết phục nhất và qua đó thẩm phán có điều kiện để suy xét, đưa ra phán quyết thích hợp nhất theo nguyên tắc không có quyền chọn chứng cứ mà thẩm phán thấy thích hợp nhất mà phải tuân theo các quy tắc chứng cứ đã được xác định trước. Vì vậy, có thể nói rằng không có khái niệm chung về giám định tư pháp cho tất cả các nước trên thế giới bởi vì quan niệm này tùy thuộc vào cách tiếp cận quyền trưng cầu, yêu cầu giám định của các chủ thể tố tụng với tư cách một phương thức thu thập chứng cứ theo định hướng giá trị về một cơ chế, mô hình tố tụng, cách thức tạo lập nền công lý mà mỗi quốc gia theo đuổi. Ở Việt Nam, theo quy định của Pháp lệnh giám định tư pháp thì “Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án”.
Với quy định này thì một việc giám định để được coi là giám định tư pháp, ngoài yêu cầu về mục đích là phục vụ cho việc giải quyết các vụ án, còn phải thỏa mãn điều kiện về chủ thể trưng cầu giám định là các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này đồng nghĩa với việc phạm vi giám định tư pháp chỉ giới hạn ở những việc giám định được thực hiện theo quyết định trưng cầu của cơ quan điều tra, kiểm sát và tòa án từ cấp huyện, cấp tỉnh đến cấp trung ương; còn những người tham gia tố tụng muốn yêu cầu giám định thì phải đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng có 8 thẩm quyền giải quyết vụ án để trưng cầu. Đây là quan niệm truyền thống, điển hình của nền tư pháp theo mô hình tố tụng thẩm vấn, vì: việc trưng cầu và thực hiện giám định được coi là một biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là trong tố tụng hình sự. Vì thế, giám định tư pháp được coi như là một hoạt động bổ trợ trước hết và gần như chỉ để phục vụ cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tìm kiếm bằng chứng để điều tra, truy tố và xét xử tội phạm, trong đó đặc biệt nhấn mạnh mặt đấu tranh với tội phạm và tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án mà chưa quan tâm nhiều đến.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật giám định tư pháp 2012 thì: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này” và “Người yêu cầu giám định tư pháp là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người yêu cầu giám định bao gồm: đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”. Như vậy, khái niệm giám định tư pháp theo quy định của Luật giám định tư pháp đã có sự thay đổi so với Pháp lệnh giám định tư pháp. Theo đó, khái niệm giám định tư pháp về cơ bản không phụ thuộc vào chủ thể trưng cầu, yêu 9 cầu giám định mà phụ thuộc vào mục đích sử dụng kết luận giám định (kết luận giám định được sử dụng vào việc giải quyết các vụ án).
Hiện nay, trong khoa học pháp lý, có một số quan điểm về giám định tư pháp hình sự như sau: Quan điểm thứ nhất: giám định tư pháp hình sự là việc nghiên cứu các vật chứng, chứng từ, tử thi, tình trạng sức khỏe và đặc điểm thể chất của người sống có ý nghĩa đối với vụ án, do người có hiểu biết chuyên môn tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra bằng quyết định trưng cầu giám định. Tuy nhiên, quan điểm này có phạm vi chủ thể quá hẹp vì giám định tư pháp hình sự không những được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra mà còn được tiến hành theo yêu cầu của những chủ thể có thẩm quyền tố tụng khác như Viện kiểm sát, Tòa án, Hải quan,… Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, trong Thuật ngữ pháp lý 2011 có quan điểm cho rằng: giám định tư pháp hình sự là việc nghiên cứu, phân tích, xét nghiệm do các nhà khoa học, kỹ thuật và chuyên môn khác tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án về những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự. Xét về mặt chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định, quan điểm này phù hợp hơn so với quan điểm thứ nhất, tuy nhiên, vẫn chưa bao quát được hết nội hàm về chủ thể và một số nội dung khác liên quan đến giám định tư pháp hình sự.