Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tao động lực cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu. Chương 3: Phân tích vấn đề tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao động lực cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TẠO DONG LUC CHO CÁN BQ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến động lực Có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến động lực, từ nghiên cứu sách hay các bài viết đăng trên các tạp chí cho đến các công trình nghiên cứu dưới dạng Luận án, Luận văn: Daniel H. Động lực chèo lái hành vi - Sự thật kinh ngạc về những động cơ thúc đẩy động lực của con người tái bản - Đỗi tên từ Động lực 3.
Hà Nội: NXB Lao động - Xã hội. Nội dung cuốn sách là những điểm mới về động lực làm việc của con người trong thế kỷ 21 mà tác giả nhận định các tổ chức hiện nay chưa khai thác và đánh giá đúng vai trò của nó do vẫn còn lệ thuộc nhiều vào các mô hình tạo động lực cũ. Cuốn sách chỉ ra rằng động lực của con người được biéu hiện qua 3 mức. Cuốn sách đề cao và khuyến khích sử dụng động lực 3.0 - Tăng cường các biện pháp tạo động lực nội tại bên trong mỗi con người, phát huy tinh chủ động, tinh thần, nhiệt huyết mỗi cá nhân.
Trên thực tế tùy vào từng hoàn cảnh cụ thé, tùy người lao động, tùy công việc dé áp dụng các động luc. Cần có sự kết hợp hài hòa cả 03 loại động lực 1. Đôi khi, tại cùng một thời điểm nhất định cần phải kết hợp cả ba loại động lực. Vương Minh Kiệt, 2005.
Git chân nhân viên bằng cách nào. Ha Nội: NXB Lao động - Xã hội. Tại cuốn sách này, tác giả đã đưa ra một SỐ giải pháp giúp cho tô chức có thé giữ chân nhân viên và nhân viên gắn bó lâu dài hơn với tô chức. Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi, 2014.
Xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam. Tap chí Khoa học trường Đại học Can Thơ, số 32, trang 97-105. Bài viết được thực hiện nhằm xây dựng một khung lý thuyết phục vụ cho mục đích khám phá các nhân tố chính ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ở khu vực công (công chức, viên chức) tại Việt Nam. Khung lý thuyết được đề xuất dựa trên mô hình Tháp nhu cầu của Maslow (1943) và mô hình Tháp nhu cầu của người Trung Quốc do Nevis đề xuất năm 1983, nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là công chức, viên chức Việt Nam.
Đồng thời, nghiên cứu còn thê hiện rõ sự cân nhắc kỹ lưỡng đến các đặc trưng của nền văn hóa tập thể và bối cảnh kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình lý thuyết do tác giả đề xuất bao gồm năm bậc nhu cầu theo trật tự từ thấp đến cao như sau: nhu cầu xã hội — nhu cầu sinh học — nhu cầu an toàn — nhu cầu tôn trọng — nhu cầu tự thé hiện. Năm bậc nhu cầu có thể xem như 5 nhóm biến trong mô hình kinh tế lượng và được đo lường thông qua tất cả 26 biến thành phần. Mô hình lý thuyết này có giá trị áp dụng đối với các tổ chức trong khu vực công tại Việt Nam.
Nhân tổ ảnh hưởng tới động lực làm việc của công chức tại Sở Lao động — Thương binh và Xã hội tính Nam Định. Trường Đại học Lao động — Xã hội. Bài viết sử dụng lý thuyết tạo động lực dé phan tích và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng tới việc tạo động lực công chức tai Sở Lao động — Thương bình và Xã hội tinh Nam Định. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tám nhân tố được xác định chỉ có bốn nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến tạo động lực cho công chức, bao gồm: đặc điểm công việc, cơ hội thăng tiến, quan hệ công tác và chính sách tiền lương.
Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất một số giải pháp mang tính gợi ý trong việc thúc đây động lực làm việc của công chức tại Sở Lao động — Thương binh và Xã hội tỉnh Nam Dinh. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tạo động lực 1. Các hoc thuyết, các nghiên cứu VỀ tao động lực Nghiên cứu về tạo động lực có nhiêu quan điêm khác nhau trong những nghiên cứu của các nhà khoa học. Họ ti€p cận với tạo động lực theo hai nhóm học thuyết: Một là nhóm học thuyết về nội dung như học thuyết nhu cầu của Maslow (1943, 2011), học thuyết hai nhóm nhân tổ của Herzberg (1959) chỉ ra cách tiêp cận các nhu câu của lao động quản lý.
Hai là nhóm học thuyết về quá trình như học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964, 1994), học thuyết công bằng của J.Stacy Adam (1963, 1969), học thuyết tăng cường tích cực của B.Skinner (1938) nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến những hành động khác nhau trong công việc của cá nhân. Vận dụng các học thuyết trên, một vải nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tạo động lực và cách thức tạo động lực theo nhiều quan điểm khác nhau. Kovach (1987) chỉ ra 10 nhân tố động viên, trong đó công việc thích thú đóng vai trò quan trọng đối với nhóm lao động thu nhập cao, nhưng với nhóm lao động có thu nhập thấp thì nhân tố quan trọng là tiền lương. Hackman va Oldham (1974) thì cho rằng đặc điểm công việc là nhân tổ quan trọng nhất ảnh hưởng đến tạo động lực lao động.
ĐI sâu vào nghiên cứu động lực đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước, nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng còn rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tạo động lực. Chăng hạn, Downs (1957), Tullock (1965), Brehm and Gates (1997) thì khẳng định lương chỉ là một phần cấu thành động lực làm việc của công chức. Công chức còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự đa dạng, thú vi của công việc (Romzek, 1990; Massey va Brown, 1998). Còn theo Daley (1986), Emmert and Taher (1992) thi giờ làm việc linh hoạt va cơ hội thăng tiến mới là nhân tố thúc day động lực làm việc của cán bộ, công chức lên cao.
Nghiên cứu của Janet Cheng Lian Chew (2004) cho rằng động viên nhân viên phụ thuộc vào hành vi lãnh đạo, quan hệ nơi làm việc, văn hóa và cau trúc, môi trường làm việc. Các giáo trình, các công trình nghiên cứu dưới dạng các bài viết đăng trên các tạp chí Nguyễn Thị Hồng Hải, 2013. Tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ chức hành chính nhà nước. Tạp chí T6 chức nhà nước, trong đó chỉ rõ 06 kinh nghiệm vé tao động lực cho cán bộ, công chức.
Trương Minh Đức, 2011. Ứng dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn ERICSSON Việt Nam. Tap chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh té và kinh doanh, số 27, trang 240-247. Bài viết đã dựa trên ly thuyết tháp nhu cầu Maslow để đánh giá mức độ tạo động lực làm việc cho các nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Ericsson tại Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu dưới dạng các Luận án, Luận văn Vũ Thị Uyên, 2007. Tao động lực cho lao động quan lý trong các DN nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án đã hệ thống hóa những lý luận căn bản về lao động quản lý và vai trò của lao động quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN; hệ thống và đề xuất về động lực lao động, các nhân tố tao động lực, các biện pháp tạo động lực cho người lao động và lao động quản lý trong DN.
Đồng thời, tác giả cũng phân tích và đánh giá về thực trạng động lực cho lao động quản lý trong các DN nhà nước ở Hà Nội, rút ra một số nguyên nhân cơ bản làm hạn chế động lực của lao động quản lý trong DN nhà nước ở Hà Nội và đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong DN nhà nước ở Hà Nội. Như vậy, luận án tập trung chủ yếu vào đối tượng là lao động quản lý. Đây là điểm khác biệt với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Nguyễn Thị Phuong Lan, 2015.
Hodn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính Nhà nước. Học viện Hành chính quốc gia. Luận án cũng đưa ra những kinh nghiệm cho công tác tạo động lực bằng các giải pháp hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức hành chính Nhà nước Việt Nam. Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động 1.
Các khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức và người lao động 1. Cán bộ Khoản | Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bau cử, phê chuẩn, bồ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước ” [15, tr.