phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung nghiên cứu đƣợc trình bày trong 3 chƣơng sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận trong việc thu hút cán bộ nữ tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học CHƢƠNG 2: Thực trạng tham gia hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học nữ CHƢƠNG 3: Giải pháp tăng cƣờng thu hút cán bộ nữ trong hoạt động nghiên cứu khoa học 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG VIỆC THU HÚT CÁN BỘ NỮ THAM GIA HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Khái niệm về nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học (NCKH) là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chƣa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động con ngƣời.1 Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng.2 Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đƣợc từ các thí nghiệm nghiên cứu để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Nói cách khác, NCKH là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, đặc điểm nổi bật của nó là mang tính sáng tạo, đó là linh hồn của công tác NCKH là điểm cơ bản nhất phân biệt nó với lao động sản xuất bình thƣờng tức lao động sản xuất mang tính lặp đi, lặp lại.
Quá trình NCKH là quá trình mang tri thức vận động từ không đến có, từ ít đến nhiều. NCKH và sáng tạo có mối liên hệ mật thiết với nhau, quá trình của công tác NCKH chính là quá trình sáng tạo ra cái mới. Do đó, đánh giá trình độ cao hay thất của thành quả NCKH chủ yếu là xem mức độ lớn, 1 PGS. Vũ Cao Đàm: Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật, 2005 2 Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam: Luật Khoa học và Công nghệ, tháng 6/2000 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhỏ của yếu tố sáng tạo trong nó: tính sáng tạo càng lớn, trình độ khoa học càng cao và ngƣợc lại.
Đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học Do hoạt động NCKH là một hoạt động tạo ra tri thức mới, giải pháp mới, công nghệ mới, phƣơng pháp tiến hành mới. nên hoạt động này có những đặc thù cơ bản sau: 1. Tính sáng tạo Bản thân hoạt động NCKH đã mang tính đặc thù là lao động sáng tạo khoa học vì vậy đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm tòi cái mới, chƣa ai đề xuất, khám phá ra; Có tự do trong suy nghĩ, tƣ duy; Phụ thuộc nhiều vào năng lực cá nhân, điều này một phần do khả năng bản thân nhƣng phần lớn thông qua quá trình đào tạo, luyện tập để tích lũy có hệ thống các tri thức khoa học, phƣơng pháp NCKH và thế giới quan biện chứng; Ý tƣởng sáng tạo có thể nảy ra bất chợt, hoặc qua quan sát hoặc do nhu cầu thực tế đòi hỏi, thu hút sự chú ý đặc biệt của ngƣời làm khoa học. Đòi hỏi tích luỹ Để có đƣợc những thành công trong NCKH, các nhà khoa học cũng phải trải qua một thời kỳ thai nghén, thu thập và tích lũy một lƣợng thông tin có liên quan đến phƣơng pháp, thủ pháp và hƣớng tƣ duy của công việc nghiên cứu đòi hỏi đầu tƣ chất xám cao.
Không chỉ vậy mà những ý tƣởng mới để có thể đƣa vào cuộc sống cần thời gian kiểm nghiệm thực tế hay nói cách khác thời gian tạo ra sản phầm khoa học thƣờng lâu hơn các sản phẩm khác nhƣng giá trị sản phẩm đƣợc tạo ra lại cao. Cho nên các nghiên cứu gia muốn đạt đƣợc những kết quả nhất định đều phải trải qua quá trình lao động cần cù, gian khổ, thu hút nhiều trí lực, tâm lực và thể lực. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính rủi ro cao Trong NCKH khó có thể khẳng định những kết quả nghiên cứu là mới, các giả thuyết có thể đúng hoặc sai.
Những kết quả đó có ứng dụng thành công hay đƣợc xã hội đón nhận hay không, điều này phải qua thử nghiệm mới biết đƣợc. Theo đánh giá của một số nhà khoa học thì chỉ khoảng 30% là thành công tuy nhiên trong lĩnh vực khoa học – kỹ thuật tỷ lệ cao hơn là 70%. Tính cá nhân Dù là một công trình NCKH, sáng tác nghệ thuật do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân cũng mang yếu tố quyết định. Tính cá nhân là sự thể hiện trong tƣ duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
Tùy theo trình độ học vấn, tƣ chất di truyền, thể lực và môi trƣờng xã hội mà cá nhân và năng lực cá nhân đƣợc hình thành và phát huy khác nhau. Ví dụ: Sản phẩm khoa học tạo ra thƣờng mang đậm nét công lao của một cá nhân nào đó nhƣ Microsft: Bill Gate, Thuyết tƣơng đối: Einstain, Thuyết giá trị thặng dƣ: Mác,…; Lao động KH&CN là lao động trí óc của đội ngũ các nhà khoa học, là lao động vô giá của bất kỳ quốc gia nào. Đây chính là tài nguyên đặc biệt. Nếu chúng ta biết khai thác, thì hiệu quả, tác động của nó đối với sự phát triển là rất lớn.
Song, nếu không biết cách phát huy, nó sẽ tự mất đi, mà một khi đã mất đi thì khó và còn lâu mới có thể khôi phục đƣợc. Môi trƣờng khách quan cho mọi sáng tạo là tự do trong tƣ duy, trong trình bày quan điểm khoa học, quyền bảo lƣu những phát kiến của mình, quyền tự do giao lƣu quốc tế và có 3 Nguồn: TS. Nguyễn Thị Anh Thu: Bài giảng Quản lý và phát triển nguồn nhân lực KH&CN 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguồn thông tin dồi dào. Môi trƣờng sáng tạo chính là lợi ích của toàn xã hội, chứ không phải của riêng ai, lại càng không phải là cái để ban phát cho ai.
Vì vậy, lao động sáng tạo là lao động của những ngƣời có tri thức, có hiểu biết, có đầy đủ tƣ cách công dân. Sống trong điều kiện môi trƣờng khoa học thuận lợi, sức sáng tạo của trí thức càng lớn, hiệu quả của lao động trí óc càng cao. Ngƣợc lại, trí thức phải sống trong môi trƣờng khoa học không thuận lợi, thì sự sáng tạo và sự say sƣa NCKH sẽ bị teo lại. Vì vậy, để quản lý và phát triển đội ngũ này, các nhà quản lý cần xác định rõ: - Môi trƣờng làm việc: tự do về suy nghĩ, thể hiện sáng tạo, tự do về giờ giấc làm việc, có điều kiện tiếp cận với các công cụ sáng tạo cần thiết để thể nghiệm và thực nghiệm - Thù lao: chất xám trình độ cao hoặc tƣơng đƣơng trình độ cao - Chấp nhận cá tính - Cần đánh giá và tôn vinh đúng mực 1.
Đặc điểm và vai trò của cán bộ nữ trong nghiên cứu khoa học Trong lịch sử, vấn đề phụ nữ tham gia NCKH đã đƣợc coi là thành quả to lớn về sự nỗ lực và đấu tranh bền bỉ của nhiều thế hệ các nữ danh sĩ, để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử phát triển KH&CN thế giới. Đặc điểm của cán bộ nữ trong nghiên cứu khoa học Ngày nay, sự phát triển của xã hội đang đòi hỏi ngƣời phụ nữ tham gia nhiều hơn vào hoạt động sản xuất và đóng góp có ý nghĩa quyết định cho sự tiến bộ của xã hội. Trƣớc đòi hỏi đó, phụ nữ phải nâng cao bản thân mình về mọi phƣơng diện để phù hợp với mọi lĩnh vực hoạt động mới. Đặc biệt, trong lĩnh vực NCKH, các nhà khoa học nữ ngày nay đã khác trƣớc nhiều, bởi trong 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com họ luôn tiềm ẩn tinh thần vƣợt khó khăn để vƣơn lên trong khoa học, ham học hỏi, tính cần cù, cẩn trọng, ý thức trách nhiệm cao, trung thực trong khoa học đi cùng với những phẩm chất có tính truyền thống của phụ nữ Việt Nam nhƣ dịu dàng, đảm đang, kiên trì và tần tảo.
Sự ham học hỏi buộc các nhà khoa học nữ phải vƣợt qua những khó khăn do những đặc điểm về giới tính nhƣ chăm sóc nội trợ trong gia đình, sinh con, nuôi dạy con cái trong điều kiện thể lực yếu hơn nam giới. Có thể nói tinh thần tích cực trong công tác, ý thức trách nhiệm cao với tính cần cù cẩn trọng của phụ nữ trong công tác khoa học đƣợc thể hiện rất rõ trong nhiều tập thể cán bộ khoa học. Đối với những công việc đòi hỏi sự cẩn thận trong nghiên cứu thử nghiệm, các nhà khoa học nữ đã thể hiện đƣợc đầy đủ mặt mạnh của mình. Trong hoạt động NCKH, nhiều nhà khoa học nữ yêu nghề, thực sự gắn bó với nghề ngay cả khi có cơ hội đổi nghề khác có thu nhập cao hơn.
Một nữ khoa học công tác tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện KH&CNVN) đã chia sẻ khi nhận đƣợc lời mời làm việc tại một công ty nƣớc ngoài với mức lƣơng hấp dẫn, nhƣng chị vẫn mong muốn đƣợc thực hiện công việc nghiên cứu tại Viện vì nếu ra ngoài chị sẽ không đƣợc làm đúng chuyên môn mình đã học, đƣợc thực hiện hoài bão NCKH của mình. Bên cạnh đó, tinh thần đoàn kết, học hỏi lẫn nhau luôn đƣợc phát huy và ngày càng có nhiều phụ nữ đã thể hiện sự tự tin, dám chịu trách nhiệm trong cƣơng vị công tác của mình. Tất cả những phẩm chất đó nếu đƣợc nhìn nhận một cách khách quan và phát huy huy đúng mức thì sẽ trở thành những đóng góp to lớn cho đất nƣớc. Vai trò của cán bộ nữ trong nghiên cứu khoa học Vào cuối thế kỷ X, các ngành khoa học của châu Âu phát triển mạnh, số lƣợng các nhà bác học nữ tăng lên khá nhiều.
Đặc biệt vào thời Phục Hƣng là thời kỳ rất thịnh vƣợng của các nhà khoa học nghệ thuật ở châu Âu, phụ nữ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bác học có vai trò nổi bật chƣa từng có. Nhƣng sau đó, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, số lƣợng các nhà khoa học nữ giảm hẳn do thời kỳ đó châu Âu săn bắt, đàn áp các nhà khoa học và nhà khoa học nữ không tránh khỏi số phận chung.