Chương 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách YTCS; - Chương 2. Nhận diện những rao cản trong việc thực thi chính sách YTCS; - Chương 3. Giải pháp khắc phục những rào cản trong việc thực thi chính sách YTCS.
CO SO LY LUAN VE THUC THI CHINH SACH Y TE CO SO VA KINH NGHIEM QUOC TE 1. Cac khái niệm cơ ban 1. Khai niệm chính sách Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm về chính sách. Tùy thuộc vào mỗi cách tiếp cận khác nhau dé đưa ra những khái niệm khác nhau về chính sách.
- Theo cách tiếp cận xã hội học, chính sách được hiểu là tập hợp biện pháp do chủ thé quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội, giảm lợi thé của một hoặc một số nhóm xã hội khác, dé thúc day viéc thuc hién một hoặc một số mục tiêu xã hội mà chủ thé quyền lực đang hướng tới. - Theo cách tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, chính sách được hiểu là phương tiện tác động tới hàng loạt hoạt động sinh hoạt văn hóa và xã hội của con người, từ đó dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách và hơn nữa là những kiến tạo xã hội mới do chính sách dẫn đến. - Tiếp cận tâm lý học, chúng ta có thê hiểu chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một hoặc một số mục tiêu của chủ thể quyên lực. - Xét từ tiếp cận đạo đức học, chính sách là thê hiện thái độ đối xử phủ hợp dao đức của một chủ thé quyền lực, chủ thé quản lý với đối tượng bị quản lý.
- Xét về mặt pháp lý, chính sách là biện pháp được thé chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hướng theo mục tiêu phát triển xã hội. 22] 15 Trong cuốn Giáo trình Khoa học chính sách, PGS.Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thê chế hóa, mà một chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội. Tổng hợp từ những phân tích trên, trong luận văn này thuật ngữ “Chinh sách ” được hiểu là một tập hợp biện pháp được chủ thể quản ly dua ra nhằm thực hiện mục tiêu trong chiến lược phát triển của một tổ chức. Khái niệm chính sách công 1.1, Chính sách công “Chính sách công” là một cụm từ được sử dụng phổ biến trong các tải liệu và phương tiện truyền thông.
Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa rõ ràng. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công, ví dụ như: — Chính sách công là những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm (Dye, 1992); — Chính sách công là một thoả thuận chính trị có hay không hành động, được tạo ra nhằm giải quyết, hoặc làm giảm nhẹ vấn đề thuộc về chính trị (Fischer 1995); — Chính sách công có thé là một tuyên bố mang tính quyền lực, dựa trên những giả thuyết về nguyên nhân, ảnh hưởng và được thiết kế, cau trúc dựa trên những mục tiêu (Althaus, Bridgman & Davis 2007). Hiểu một cách tương đối, khái niệm “công” trong chính sách công phản ánh thực tế là các chính sách đó được làm ra bởi các cơ quan công quyền, được gọi chung là Nhà nước, mà những hành động của các chủ thé này phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Chính sách công, do đó, là việc thực thi mang tính chủ quyền, quyền lực Nhà nước thông qua việc sử dụng các nguồn lực công 16 và ràng buộc pháp lý mà lĩnh vực tư không thé (Maddison & Denniss 2009).
Có thé thấy chính sách công là phương thức mà các chính trị gia, những người trực tiếp hoạch định chính sách, tạo ra sự khác biệt, hoặc thay đổi. Chính sách công, vì thé, là công cụ của Nhà nước. Nó là kết quả của một sự thoả thuận, đàm phan, cạnh tranh giữa các ý tưởng, các lợi ích, các hệ tư tưởng tác động thúc đây hệ thống chính trị (Althaus, Bridgman & Davis 2013). Chính sách công, theo đó, là những lựa chọn của Nhà nước để giải quyết một tình huống chính trị hoặc một van đề công cộng.
Có thé thấy, chính sách công có những đặc điểm sau đây: + Là chính sách của nhà nước đối với khu vực công, được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung, áp dụng nhiều lần (dẫn đến hiệu lực của chính sách không bị triệt tiêu sau mỗi lần áp dụng); + Nhà nước đảm bảo thực thi chính sách công bằng quyền lực nhà nước và các điều kiện khác về nhân lực, tài chính, cơ sở vật chat. Trong luận văn này, thudt ngữ “Chính sách công” được hiểu là tập hợp các biện pháp của Nhà nước được thể chế hóa trong hệ thông các văn bản quy phạm pháp luật, được Nhà nước đảm bảo thực thi bằng quyên lực nhà nước và các diéu kiện khác. Thực thi chính sách công Thực thi đơn giản là thực hiện hay tiến hành. Ở đây, thực thi chính sách được xem xét với tư cách là giai đoạn thứ ba của chu trình chính sách công bốn giai đoạn.
Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo Mazmanian va Sabatier: “Thực thi là thực hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thể hiện đưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của tòa án. Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình 17 thực thi. Thông thường quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu thông qua với đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định — của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản”. Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “thực thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đối phức tạp mà các quyết định của Nhà nước được chuyền thành các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động nhăm đạt được những cai thiện xã hội”.
Ottoson va Green cho rằng “thực thi là một quá trình lặp đi lặp lại trong đó các ý tưởng, được thê hiện trong chính sách công, được biến đổi thành hành vi, được thé hiện thành hành động xã hội. Thông thường, hành động xã hội được biển đổi từ chính sách nhằm đạt được sự cải thiện xã hội; va thường được thé hiện phố biến nhất dưới dang các chương trình, thủ tục, quy định và hành động”. Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế dé thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyền thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện dé đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích”.
Thực thi chính sách công là một giai đoạn rất quan trọng của chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của qua trình thực thi chính sách. Có bốn khả năng xảy ra: (1) Chính sách công tốt và thực thi tốt dẫn đến thành công; (2) Chính sách công tốt nhưng thực thi không tốt dẫn đến thất bại; (3) Chính sách công không tốt nhưng thực thi tốt, dẫn đến thành công; (4) Chính sách công không tốt và thực thi cũng không tốt, dẫn đến thất bại toàn diện. 18 Như vậy, thực thi chính sách công có vi trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách công, nó là giai đoạn hiện thực hóa các mục tiêu chính sách công. Đánh gia hiệu quả thực thì chính sách công Đánh giá hiệu quả của chính sách là xem xét tương quan giữa kết quả đạt được từ việc tô chức thực hiện chính sách so với những nguồn lực hoặc tai nguyên phải bỏ ra dé tạo ra những kết quả đó.
Đánh giá hiệu quả của chính sách công là căn cứ để xem xét việc dành nguồn lực thực hiện chính sách có thỏa đáng hay không và thỏa đáng đến mức nào? Một chính sách có hiệu quả cao đồng nghĩa với việc dành nguồn lực xã hội thực hiện chính sách này là xứng đáng và nên được ưu tiên. Chính sách có hiệu quả càng cao có nghĩa là đóng góp của nó vào tăng trưởng kinh tế - xã hội càng lớn và việc thực hiện chính sách đó càng được ưu tiên. Hiệu quả của việc thực thi chính sách có thé tính toán được qua những chỉ số cụ thể phản ánh tương quan giữa kết quả tổng hợp từ việc thực hiện chính sách (hoặc kết quả bộ phận cau thành kết quả tổng hợp) với chi phí tổng hợp dành cho việc thực hiện chính sách. Khái niệm thực thi chính sách y tế cơ sở 1.
Y té cơ sở Mô hình chung của tổ chức mạng lưới y tế ở Việt Nam theo tổ chức hành chính Nhà nước gồm: Y tế tuyến Trung ương và Y tế tuyến địa phương. Trong y tế tuyến địa phương gồm: y tế tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tuyến y tế cơ sở: Trung tâm y tế quận, huyện, thị xã; trạm y tế xã, phường; y tế cơ quan, trường học, thôn bản. Hiện cả nước có hơn 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.000 trạm y tẾ xã, phường, thị tran, trong đó có hơn 60% số trạm y té da dat tiéu chi quéc gia về y tế xã giai đoạn 2010 - 2020; 100% số xã có trạm y tế hoặc có 19 phòng khám đa khoa khu vực liên xã; 87,5% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc; 96% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi và hơn 95% số thôn, bản có nhân viên y tế thôn, bản hoặc cô đỡ thôn, bản.