Chương 1 TÁC PHẨM VĂN HỌC VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI 1. Tác phẩm văn học - từ nhận thức cuộc sống, cái đẹp đến giáo dục đạo đức con người Con người là chủ thể của mọi sự phát triển, còn văn hóa tạo ra hệ thống các giá trị chuẩn cho con người vươn tới, từ đó hình thành nên phẩm chất con người. Văn hóa hình thành nên nhân cách con người mà con người chính là chủ thể của mọi sự phát triển. Trong văn hóa, văn học nghệ thuật là loại hình, lĩnh vực quan trọng, đặc biệt, tinh tế, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân, thiện, mĩ của con người.
Như vậy, có thể nói văn học nghệ thuật là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và xây dựng, phát triển văn hóa con người. Trong các chức năng cơ bản của văn hóa - văn nghệ thì chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ và chức năng giáo dục là những chức năng quan trọng hàng đầu; đồng thời chức năng giao tiếp, tổ chức, điều chỉnh xã hội cũng góp phần quan trọng không kém nhằm xây dựng một xã hội lành mạnh, với các thành tố lành mạnh tạo nên các giá trị ổn định làm nền tảng cho phát triển, góp phần điều chỉnh xã hội, xây dựng một xã hội lành mạnh hơn. Tác phẩm văn học - cuốn “bách khoa toàn thư” về đời sống Văn chương phát sinh và phát triển từ lâu trong đời sống xã hội loài người, nhưng không phải ai cũng thấy được giá trị nhận thức của nó. Mĩ học Mác - Lênin cho nghệ thuật là phương tiện mà con người dùng để nhận thức thế giới.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác luôn thấy rõ và nhấn mạnh ý nghĩa nhận thức của văn học nghệ thuật. Mác và Ăng-ghen đã nhiều lần nêu rõ ý nghĩa nhận thức của văn chương. Về bộ tiểu thuyết Tấn trò đời của Balzac, bộ 11 bách khoa toàn thư về cuộc sống của xã hội Pháp trong nửa đầu thế kỷ XIX, Ăngghen viết: “Balzac mô tả toàn bộ lịch sử xã hội Pháp, trong đó ngay cả những chi tiết kinh tế (thí dụ như việc phân phối lại quyền tư hữu thực tế về quyền tư hữu cá nhân sau cách mạng), tôi đã học tập được nhiều hơn là tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp thì ấy cộng chung lại”.Ăng-ghen, Lênin đánh giá cao khả năng hiểu biết, khám phá, sáng tạo của văn học. Một ví dụ tiêu biểu là Người đã đánh giá rất cao Lev Tolstoy ở khả năng nhận thức và phản ánh đời sống xã hội qua tác phẩm của ông.
Người xem “Tolstoi là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”. Maxim Gorki, nhà văn của giai cấp vô sản Nga, người luôn kính cẩn học hỏi Lev Tolstoy, đã khẳng định: “Lev Tolstoy đã nói cho chúng ta biết về đời sống của nước Nga, gần như không thua kém toàn bộ nền văn học Nga”. Ở Việt Nam, thủ tướng Phạm Văn Ðồng cũng đã từng phát biểu rất chí lí rằng: “Văn học nghệ thuật là công cụ để hiểu biết. Khám phá, sáng tạo lại thực tại xã hội”.
Có người cho rằng, “Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống”, là tấm gương phản chiếu đời sống. Văn học nghệ thuật có chức năng nhận thức cuộc sống. Vì sao vậy? Vì trước hết văn học là một kho chứa khổng lồ về tri thức, mang đến sự hiểu biết, giúp con người khám phá hiện thực, có thể tìm thấy trong văn học những tri thức về thiên nhiên, vũ trụ, về đời sống xã hội.những cuốn tiểu thuyết lịch sử như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái đưa ta về với quá khứ xa xăm của dân tộc. Thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại cuộc sống đau thương và những kì tích anh hùng của người xưa.
Đọc những tác phẩm văn học hiện thực giao đoạn 1930-1945 (Lão Hạc của Nam Cao, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng…), ta thường bắt 12 gặp hình ảnh người nông dân bỏ làng ra đi vì sự bần cùng hóa của nông thôn đang diễn ra khốc liệt [30,243]. Văn học miêu tả các hiện tượng, đối tượng thuộc thế giới tự nhiên và đời sống xã hội chính là nhằm khám phá đời sống của con người trong các mối quan hệ phức tạp. Qua hình tượng nhân vật, nhất là nhân vật điển hình, văn học giúp ta tìm hiểu thân phận con người, khám phá các tính cách xã hội của một giai đoạn lịch sử, của một tầng lớp giai cấp nào đó (ví dụ tính cách nhân vật trong kịch của Môlie mang đặc điểm phổ quát của bản chất người, hay nhân vật trong sáng tác của Nam Cao mang đặc điểm khái quát cho tầng lớp giai cấp trong xã hội). Mục đích cuối cùng của nhận thức là hướng tới khái quát, khám phá ra bản chất, quy luật của hiện tượng, đối tượng.
Cho nên, ngoài việc hiểu biết sâu sắc, rộng rãi về thế giới, văn chương còn phải phát hiện ra bản chất quy luật của thế giới nhưng không phải bằng những tư duy lo-gic của khoa học mà là bằng phương thức thể hiện riêng, phương tiện đặc thù. Ðó là những hình tượng nghệ thuật. Chính hình tượng đã mang đến cho con người những tri thức và sự hiểu biết riêng qua con đường thẩm mĩ, bằng con đường tình cảm thẩm mĩ. Một “làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến đã làm dậy lên nỗi nhớ quê của người xa xứ, một anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, một Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao… ta vẫn nhận ra số phận và tính cách của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng.
Đó là những điều bình thường, chân thực, giản dị trong cuộc sống hàng ngày được văn học phát hiện khiến người tiếp nhận phải bật thốt lên: “Đúng, cuộc đời là như vậy, con người là như vậy, thế mà trước đây ta không hề nhận thấy được”. Văn học luôn mở mang trí tuệ, mài sắc cái nhìn của ta, mang lại cho ta cái nhìn nhạy bén, dạy cho ta biết cách phân biệt đâu là thật, đâu là giả, đâu là thiện, đâu là ác. Qua miêu tả thiện - ác, đẹp - xấu, nhà văn đã giúp ta nhận ra ý nghĩa, giá trị của 13 cuộc sống: Mình là ai? Mình sống để làm gì? Vì sao con người phải sống trong đau khổ? Làm thế nào để có cuộc sống sung sướng, hạnh phúc? Đó là những câu hỏi đặt ra với người tiếp nhận. Đọc Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, thơ văn của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương…ta hiểu điều gì là đáng yêu, đáng ghét trong xã hội cũ, ta hiểu được khát vọng vươn lên sống cuộc sống xứng đáng của họ.
Văn học giúp ta hiểu được giá trị của mình, thấy được vị trí của mình, biết được cần phải làm gì để nâng cao giá trị và năng lực của bản thân [30,214]. Tóm lại, văn chương có khả năng nhận thức vô cùng to lớn trên nhiều bình diện của hiện thực đời sống về tự nhiên cũng như về xã hội. Nó là “cuốn sách giáo khoa về đời sống”. Chức năng đó diễn ra trong quá trình nhà văn nhận thức hiện thực bằng tác phẩm nghệ thuật.
Tác phẩm nghệ thuật đến lượt mình trở thành một công cụ thẩm mĩ giúp người đọc nhận thức cuộc sống và hiện thực qua những khám phá và sáng tạo của nhà văn. Tác phẩm văn học - nơi kết tinh những sáng tạo thẩm mỹ Từ thời xa xưa, khi chưa có nghệ thuật, nhu cầu hưởng thụ cái đẹp và quan hệ thẩm mĩ giữa con người với đời sống đã xuất hiện, đến khi nghệ thuật phát triển rực rỡ, nhu cầu thẩm mĩ cũng không giới hạn trong phạm vi nghệ thuật. Trong bất cứ phạm vi, lĩnh vực nào, con người cũng sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Chính vì thế, Biêlinxki nói rằng: “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật.
Đó là một chân lí”. Sáng tạo ra cái đẹp là chức năng quan trọng nhất của văn nghệ. Cái đẹp không chỉ thể hiện ở hình thức bên ngoài mà chính là nội dung. Với ý nghĩa như thế, văn học nghệ thuật là lĩnh vực hoạt động có khả năng thỏa mãn tối đa nhu cầu hưởng thụ cái đẹp.
Nghệ thuật thực hiện chức năng thẩm mĩ rất riêng. Nghệ thuật làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc bằng việc miêu tả và phản ánh cái đẹp 14 trong tự nhiên và xã hội. Có thể tìm thấy trong văn học muôn vàn vẻ đẹp của cỏ, cây, hoa, lá, sông, núi, mây trời: “Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”, “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” (Nguyễn Du, Truyện Kiều) hay “Hoa giãi nguyệt, nguyệt in từng tấm/ Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông” (Đặng Trần Côn, Chinh phụ ngâm), “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa” (Hồ Chí Minh, Cánh khuya). Cái đẹp có khả năng đưa đến cho chúng ta một khoái cảm, một thích thú, một niềm xúc động.
Tiếp xúc với tác phẩm văn học có giá trị, người đọc có cảm giác như đang lạc vào khu rừng đầy hoa, hương thơm tỏa ngát, khiến ta như quên hết sự tồn tại của thời gian, quên hết những nhọc nhằn của cuộc sống hàng ngày. Ví dụ qua cái thanh trong của ao thu, của cái cần câu bé tí teo, của tiếng lá rơi nhẹ động chân bèo, của tầng mây lơ lửng… tất cả hợp thành thần thái của bức tranh thu rất đặc sắc của làng quê Bắc Bộ Việt Nam, người đọc như đang dạo gót, thơ thẩn tận hưởng khí trời mát mẻ, cảnh sắc thanh nhẹ, tinh tế của đất trời [30,208]. Việc phản ánh thường có chọn lọc, do đó cái đẹp của đời sống khi đã được đưa vào nghệ thuật nó trở nên đẹp bội phần. Vốn ngoài đời sống, nó đã đẹp, khi đi vào nghệ thuật, qua bàn tay trau chuốt gọt giũa của nhà văn lại càng đẹp hơn.
Thử đơn cử một ví dụ, bài thơ sau của Bảo Định Giang: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng/ Nhị vàng, bông trắng, lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nói đến sen là nói đến cái đẹp. Sen rất đẹp nhưng chỉ nhìn nó ở ngoài đời thì chưa thấy hết cái đẹp của nó.