Chương 1, Điều 4 thì: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cân thiết để thoả mãn nhu câu của khách du lịch trong chuyén di du lịch” [24]. 17 Do đó, sản phâm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dich vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch, cụ thể: Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + hàng hóa + dich vụ du lich [1]. Điểm đến du lịch Điểm đến du lịch là một khái niệm không mới trên thế giới, nhưng lại khá mới mẻ ở Việt Nam. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO) thì “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm.
Nó bao gom cdc san pham du lịch như các dich vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới han vật chất và quản ly giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tinh cạnh tranh trong thị trường. Các điểm đến du lich địa phương thường bao gồm nhiêu bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thé kết nói lại với nhau dé tạo thành một điểm đến du lịch lớn hon” [29]. Trong tập giảng Marketing điểm đến của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa thì điểm đến du lich (Destination) là: Những điểm có tài nguyên du lịch nồi trội, có kha năng hấp dẫn du khách; hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bên vững [3, tr.
Một sô vần đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của điêm đến du lịch 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia v. Điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia.
Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sông và phúc lợi cho nhân dân. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh dua, dau tranh gay gat giữa các nhà tu bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [21]. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chỉ phí sản xuất và khả năng có thê bán hàng hoá dưới giá tri của nó nhưng vẫn thu đựơc lợi nhuận.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nên kinh tế thị trường, chỉ phối quan hệ cung cẩu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [21]. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Khôn trong từ điển Hán việt giải thích: "Canh tranh là ganh đua hơn thua". Từ những quan niệm khác nhau, có thé hiểu: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế trong đó các chủ thé kinh tế ganh đua nhau tim mọi biện pháp, cả nghệ thuật lan thi đoạn dé đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thé kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối da hóa lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng va sự tiện lọ?” [6, tr. Khái niệm năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 1.1 Khải niệm năng lực cạnh tranh Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học thì “NLCT la khả năng giành được thị phan lớn trước đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kề cả khả năng giành lại một phan hay toàn bộ thi phan cua dong nghiệp” [3, tr.16] 19 Theo OECD thì “NZCT là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực liên quốc gia trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn, trong điều kiện cạnh tranh quốc tế và trên cơ sở bên vững” [3, tr. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2001): “Đối với doanh nghiệp, NLCT có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trưởng mới mang lại giá trị cho các cô đông. Đối với xã hội, nâng cao NLCT là tạo việc làm mới va diéu kiện sống tốt hơn”.
Làm giàu là động cơ của tăng trưởng kinh tế và động lực chính của đổi mới. Mục tiêu căn bản của NLCT là duy trì và nâng cao thu nhập thực tế của người dân, phản ánh mức sống tăng lên của đất nước trong điều kiện thị trường tự do và bình đăng.2 Năng lực cạnh tranh điển đến — Destination Competitiveness Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh điểm đến, cụ thê: Khái niệm năng lực cạnh tranh điểm đến theo Matin Kozak: “NLCT điểm đến là khả năng của một điển đến có thể cung cấp một cách tương xứng (proportionally) các sản phẩm du lịch cho du khách với sự thỏa mãn cao nhất, khác biệt hơn, với chất lượng cao hơn và tốt hơn so với các điểm đến khác và có thể duy trì bén vững những kết qua đó” [3, tr. Theo Dwyer, Forsyth và Rao thì: “NLCT điểm đến là khái niệm chung bao hàm những khác biệt về giá kết hợp với sự vận động của tỷ giá, mức độ hiệu quả của các thành phân khác nhau trong ngành du lịch và nhân tổ chất lượng ảnh hưởng tới sự hap dẫn hoặc các yếu tổ khác của điểm đến” [6, tr. Ngoài ra, theo Hassan thì mét điềm đến có thé nói là cạnh tranh nếu thị phân của nó được đánh gia bởi số dụ khách và lợi nhuận tăng lên.36] Theo tác giả Nguyễn Anh Tuấn — Luận án tiến sĩ, 2010: “NLCT điểm đến là kha năng của mot điểm đến cạnh tranh với các điểm đến khác một cách hiệu quả trên thị trường du lịch khu vực và quốc té, mang lai su trai nghiém thoa man hon cho khách du lịch và sự thịnh vượng bên vững hon cho người dân bản dia” [6, tr.
20 Tóm lại, “NLCT điểm đến là mức độ của điểm đến đó với những điều kiện thị trường tự do, lành mạnh, tạo ra được những dịch vụ có thể đáp ứng được thị hiểu của thị trường và dong thời gia tăng đáng kể thu nhập thực tế cho người lao động tại điểm đến đó” [3, tr. Các yếu tô cấu thành và các nhân tô ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch 1.1 Các yếu tố cầu thành điểm đến du lịch Thứ nhất, là điển hấp dẫn du lịch: Các điểm hap dẫn của một nơi đến dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng tạo ra động lực ban đầu cho sự viễng thăm của du khách. Thứ hai, là giao thông đi lại (Khả năng tiếp cận nơi đến): Sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điều kiện căn bản cho sự thành công của các điêm đên du lịch. Thứ ba, là nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú và ăn uông của điêm đên không chỉ cung câp nơi ăn nghỉ mang tính vật chât mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiép đãi nông nhiệt, lưu lại ân tượng khó quên vê các món ăn hoặc đặc sản địa phương.
Thứ tư là các tiện nghỉ và dịch vụ hỗ trợ: * Khách du lịch thường đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi đến du lịch nhằm thỏa mãn được nhu cầu ăn, ở, vui chơi giải trí, tham quan và nghỉ đưỡng của họ. Hơn nữa, khả năng cung cấp tiện nghi và các dich vụ hỗ trợ cho thấy bản chất đa ngành của yếu tố cung trong du lịch cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch. Chính vì lẽ đó mà yêu tổ tiện nghi giữ vai trò quan trong trong việc hap dẫn khách du lich tại nơi họ đến du lịch. * Ngoài ra, các nơi đên con cung cap các dịch vu ho trợ khác cho cả khách hàng và ngành du lịch thông qua các tổ chức (cơ quan) du lịch địa phương.
Những 21 dịch vụ này bao gồm: quảng bá cho nơi đến; lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát sự phát triển của nơi đến; tư vấn và phối hợp với các doanh nghiệp khác ở địa phương; cung cấp một số tiện nghi nhất định (giải trí, thé thao.) Do vậy, yếu tố tiện nghi, dịch vụ hỗ trợ là yếu tố không thể thiếu và góp phần quan trọng trong việc cau thành nên điểm đến du lịch. Thứ năm là các hoạt động bồ sung: * Các hoạt động bổ sung như hoạt động mua sắm, vui choi giải trí, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công,. được tạo ra nhằm giúp khách du lịch có được những trải nghiệm lý thú, qua đó tạo nên điểm đến hấp dẫn. Tóm lại, các điểm hấp dẫn, giao thông đi lại, nơi ăn nghỉ, tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ, các hoạt động bé sung là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của một nơi đến du lịch.
Tùy thuộc vào mỗi cá nhân, các yếu tố này có thé có rất nhiều cách kết hợp khác nhau ở các mức độ khác nhau. Sự quyến rũ của nơi đến du lịch mang lại nét độc đáo dé thu hút khách du lịch trên thị trường. Dù rằng, những gi khiến khách du lịch này thích thú có thể không là mối quan tâm của khách du lịch khác. Tuy nhiên, tất cả các nơi đến du lich nói chung đều cần phải có năm yếu tô cấu thành nói trên [3, tr.