Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Một số vấn đề lý luận về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng 1. Khái niệm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng Lừa đảo là thuật ngữ khoa học pháp lý xuất hiện từ nhiều thế kỷ qua và được mọi người sử dụng rộng rãi ở trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc làm cho người khác do hiểu sai sự thật mà tin tưởng ủng hộ mình.
Dưới góc độ chung nhất, theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Lừa đảo là dùng thủ đoạn gian dối đánh lừa người khác để mưu lợi. Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, nhằm giấu giếm nội dung sai sự thật (ít, nhiều hoặc hoàn toàn) làm cho người khác tin, nhầm, tưởng giả là thật để chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, thu lợi vật chất khác hoặc che giấu một việc làm xấu. Sự lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền ngay với hành động chiếm đoạt, nó thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nói dối, dùng giấy tờ giả mạo, giả danh người có chức, có quyền.”[58] Tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu thông thường về khái niệm “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xem xét hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ là một hiện tượng xã hội tiêu cực. Dưới góc độ pháp lý, khoa học hình sự đã khái quát khái niệm lừa đảo như sau: “Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi trái pháp luật”.72] Về khái niệm chiếm đoạt, chiếm đoạt dưới góc độ pháp luật hình sự được hiểu là “hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật luật tài sản của người khác thành tài sản của mình, hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm".[52] Hành vi chiếm đoạt xét về mặt khách quan là hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó.
Tài sản là đối tượng của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý của chủ tài sản. Xét về mặt khách quan, lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người chiếm hữu, quản lý nhưng vẫn mong muốn 7 biến tài sản đó thành tài sản của mình. Về khái niệm tài sản, Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai".[31] Trong các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng, tài sản bị chiếm đoạt chủ yếu là tiền và các giấy tờ có giá khác. Từ những phân tích ở trên, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng có thể hiểu như sau: “Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng là một tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các chủ thể trong lĩnh vực ngân hàng bằng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc các ngân hàng nhầm tưởng, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội”. Đặc điểm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng mang đầy đủ các đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung, nhưng cũng có một số đặc trưng nhất định. ● Đặc điểm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung Theo quy định của Bộ luật hình sự, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.
Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi: Hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. Hai hành vi này có quan hệ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối. Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.
Hành vi chiếm đoạt là hành vi cố ý làm dịch chuyển một cách phi pháp tài sản đang thuộc sự sở hữu, quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình, qua đó làm mất đi khả năng thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản trên thực tế. Do đó, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác thành tài sản của mình bằng cách đưa ra những thông tin không đúng sự thật làm cho người đang chiếm giữ tài sản tin mà giao, nhận nhầm hoặc không nhận tài sản. 8 Thực tiễn việc nhận thức đặc điểm hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nhiều ý kiến khác nhau, dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội phạm có tính khái quát dẫn đến việc xác định tội danh gặp khó khăn. Để xác định, cần căn cứ vào “thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản” trong cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về hình thức thì người phạm tội phải đồng thời thực hiện hai hành vi là hành vi lừa dối với nạn nhân và hành vi chiếm đoạt tài sản của nạn nhân.[46] Tuy nhiên, khi xem xét không thể tách biệt mà phải đảm bảo thống nhất trong cùng vụ việc. Người phạm tội chỉ có sử dụng thủ đoạn gian dối mới làm cho người bị hại trao nhầm tài sản. Vấn đề này được hiểu là người phạm tội đã sử dụng mọi phương pháp để che giấu bằng cách đưa ra những thông tin không đúng sự thật như dùng lời nói dối trá; giấy tờ giả mạo; giả danh người có chức vụ quyền hạn; giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên. Hành vi lừa dối có tính chất sau đây: Thứ nhất, hành vi lừa dối phải có trước hoặc đi liền với hành vi chiếm đoạt, hai hành vi này có mối quan hệ nguyên nhân - kết quả một cách trực tiếp.
Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là nguyên nhân trực tiếp, điều kiện trực tiếp của kết quả, mục đích chiếm đoạt - chuyển dịch tài sản từ người quản lý sang người phạm tội. Tức là, người phạm tội chỉ thực hiện hành vi gian dối mới có thể chiếm đoạt được tài sản hay nói cách khác, chỉ có thể chiếm đoạt được tài sản khi dùng thủ đoạn gian dối. Đặc điểm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm đồng thời phải thực hiện hai hành vi là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. Về tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của chủ tài sản, thì hình thức chiếm đoạt là nhận tài sản từ người bị lừa dối; nếu tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội, thì hình thức cụ thể là giữ lại tài sản đáng ra phải giao cho người bị lừa dối.
Chẳng hạn do tin vào lời nói của người phạm tội nên người bị hại đã nhận nhầm tài sản như: nhận thiếu, nhận sai loại tài sản đáng ra được nhận. Do đó thủ đoạn gian dối phải gắn với hành vi chiếm đoạt tài sản. Khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản, sau một khoảng thời gian nhất định, nạn nhân mới biết mình bị lừa đảo.[52] Cần phải hiểu rằng, không phải cứ có thủ đoạn gian dối khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì đều có thể xem là Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hiểu như thế là không chính xác. Bởi vì, tùy thuộc vào đặc điểm của thủ đoạn gian dối, có thể hành 9 vi gian dối chỉ là thủ đoạn để nhằm tiếp cận tài sản sau đó mới thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai, thủ đoạn gian dối của người phạm tội là căn cứ để người bị hại “tự nguyện” trao tài sản. Trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc chiếm đoạt tài sản phải được thể hiện dưới hình thức tự nguyện. Có nghĩa là, vì tin vào những thông tin sai sự thật của người phạm tội mà người bị hại đã “tự nguyện” trao tài sản cho người phạm tội, khác với trong tội Cướp hay Cướp giật, tài sản rơi vào tay người phạm tội, sự dịch chuyển tài sản từ người bị hại hoàn toàn là do hành vi vũ lực, cưỡng ép… của người phạm tội, hoàn toàn không xuất hiện yếu tộ “tự nguyện” như trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.[38] Đặc điểm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng Cũng giống như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung, tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm hai hành vi: Hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. Thứ nhất, Hành vi lừa dối của tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp, điều kiện trực tiếp để các đối tượng này chiếm đoạt được tài sản của ngân hàng và người dân.