Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN BUÔN LẬU 1. Khái niệm điều tra vụ án buôn lậu 1. Các dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu Tội buôn lậu là tội phạm được tách ra từ tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới được quy định tại Điều 97 BLHS năm 1985, là tội xâm phạm an ninh quốc gia. BLHS năm 1999 coi tội phạm này là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý việc XNK hàng hoá và những vật phẩm khác của Nhà nước.
BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) tiếp tục quy định tội buôn lậu thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội buôn lậu a) Khách thể của tội phạm Khách thể của Tội buôn lậu là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý việc XNK hàng hoá, tiền tệ, kim khí đá quý, di vật, cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hóa, bảo vật quốc gia. Đối tượng tác động của tội buôn lậu là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Khi xác định đối tượng tác động, nếu cần phải trưng cầu giám định của cơ quan chuyên môn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định. c) Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của Tội buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định của pháp luật các loại hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. 6 Buôn bán trái với quy định của của pháp luật là các hành vi vi phạm rất đa dạng, thủ đoạn tinh vi như: trốn tránh không khai báo hải quan, gian lận khai sai về tên hàng, số lượng, chủng loại hàng hóa; giả mạo chứng từ, tài liệu thuộc hồ sơ hải quan, lợi dụng loại hình quá cảnh, tạm nhập-tái xuất để thẩm lậu hàng hóa vào nội địa tiêu thụ mà không thực hiện tái xuất… Hậu quả, thiệt hại do hành vi buôn lậu gây ra là để lọt những loại hàng quốc cấm như vũ khí, ma túy, chất nổ, tài liệu phản động…xâm phạm an ninh quốc gia; hàng hóa không đảm bảo chất lượng, vi phạm môi trường, ảnh hưởng an toàn cộng đồng; không thu đúng, thu đủ được thuế, thất thu cho ngân sách nhà nước; hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ, lợi dụng các chính sách ưu đãi, chính sách khuyến khích XK, chính sách đối với các mặt hàng vàng, ngoại tệ, xăng dầu, khoáng sản, lương thực, thủy sản, nhu yếu phẩm,. ảnh hưởng tới điều tiết kinh tế vĩ mô, phá hoại sản xuất trong nước.
- Một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm buôn lậu: + Trị giá hàng hóa: Hành vi buôn bán trái pháp luật nêu trên chỉ bị coi là tội phạm buôn lậu khi hàng hóa, Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. + Yếu tố qua biên giới hoặc khu phi thuế quan là dấu hiệu bắt buộc phải có khi xem xét cấu thành của Tội Buôn lậu. Theo quy định Điều 1, Luật biên giới quốc gia năm 2003 “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, địa 7 điểm được xác định là biên giới được phân định thành ba khu vực, gồm: vành đai biên giới, đường biên giới, khu vực biên giới, Tuy nhiên, thực tiễn thì vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau xác định thế nào là ”qua biên giới”, nhất là đối với hàng hóa XK thì việc xác định hành vi buôn bán trái phép đã qua biên giới hay chưa lại không phải căn cứ vào việc hàng hoá đã qua đường biên giới chưa, mà căn cứ vào địa điểm thuộc phạm vi địa bàn kiểm soát của các CQHQ, biên phòng, đường mòn, lối mở biên giới đất liền, khu vực biên giới trên biển,.và căn cứ vào dấu hiệu khách quan của hành vi trốn tránh không khai hải quan để xác định phạm tội buôn lậu. c) Dấu hiệu chủ thể của tội phạm - Chủ thể của Tội buôn lậu là người có năng lực trách nhiệm hình sự và theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này.
- Chủ thể là pháp nhân thương mại: Theo Điều 75 BLHS 2015 thì Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. d) Mặt chủ quan của tội phạm Người thực hiện hành vi buôn lậu là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc khu phi thuế quan trái pháp luật, thấy trước được hậu quả nguy hiểm của hành vi và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. đ) Về hình phạt Theo Điều 188 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì hình phạt đối với tội buôn lậu được quy định bao gồm cả hình phạt tiền và hình phạt tù, mức phạt tiền thấp từ 50.000 đồng và cao nhất là 5. Về hình phạt tù: thấp nhất từ 06 tháng và cao nhất là 20 năm.
Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. * Hình Phạt đối với Pháp nhân thương mại: BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội buôn lậu (khoản 6, Điều 188). Theo đó, pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm thì bị phạt tiền từ 300 triệu đến 15 tỷ, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc bị đình chỉ vĩnh viễn; cấm kinh doanh cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm. Điều tra vụ án buôn lậu Khái niệm Điều tra vụ án hình sự: Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Học viện an ninh nhân dân-2018 thì Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự độc lập, trong đó các cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết cần thiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
[6] Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS, Điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra. Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn trong TTHS, đồng thời là quá trình áp dụng pháp luật rất phức tạp, được tiến hành nhằm làm rõ sự thật khách quan toàn diện về vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra được tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, bao gồm chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng, chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ 9 trách nhiệm hình sự của bị can cũng như những chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án. Chủ thể điều tra của vụ án hình sự bao gồm cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Hành vi tố tụng đặc trưng: khởi tố bị can, hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản. Điều tra vụ án hình sự: Theo giáo trình Luật TTHS- Đại học Luật, Biên soạn lần thứ ba năm 1997 thì Điều tra là giai đoạn TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. [34] Tham khảo khái niệm điều tra vụ án hình sự do tác giả viết trên trang điện tử của Trường Đại học kiểm soát Hà Nội bài với tiêu đề: “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn TTHS”. Theo đó, thì khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của TTHS.
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn TTHS thứ hai mà trong đó CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.