Luận văn: Địa danh Thủ Dầu Một - Quá trình hình thành và giá trị lịch sử (1900-1956)

Luận văn thạc sĩ phân tích địa danh thủ dầu một quá trình hình thành ý nghĩa và các giá trị lịch sử 1900 1956, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

128
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tương nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THỦ DẦU MỘT

1.1. Đặc điểm tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Địa thế - địa chất

1.1.3. Sông ngòi - khí hậu

1.2. Đặc điểm kinh tế

1.2.1. Thủ công nghiệp

1.2.2. Thương nghiệp

1.3. Đặc điểm văn hóa - xã hội

1.3.1. Phong tục - tín ngưỡng - tôn giáo

1.3.2. Y tế - giáo dục

1.4. Một số vấn đề lý luận về địa danh học

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu của địa danh

1.4.2. Phân loại địa danh

1.4.3. Phương thức định danh

2. CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC TÊN GỌI THỦ DẦU MỘT - Ý NGHĨA PHẢN ÁNH NHỮNG GIÁ TRỊ HIỆN THỰC

2.1. Đôi nét về cây Dầu

2.2. Tên và nguồn gốc cây Dầu

2.3. Khảo tả cây Dầu

2.4. Phương pháp trồng cây Dầu

2.5. Công dụng của cây Dầu

2.6. Nguồn gốc tên gọi Thủ Dầu Một

2.7. Tên gọi Thủ Dầu Một qua ghi chép trong thư tịch cổ

2.8. Tên gọi Thủ Dầu Một qua những kiến giải mới

2.9. Tên gọi Thủ Dầu Một qua các định danh hành chính

2.10. Ý nghĩa tên gọi Thủ Dầu Một

2.11. Tên gọi Thủ Dầu Một ảnh hưởng trong đời sống của nhân dân Thủ Dầu Một

2.11.1. Ảnh hưởng về mặt kinh tế

2.11.2. Ảnh hưởng về mặt văn hóa - xã hội

2.11.3. Ảnh hưởng về mặt chính trị

3. CHƯƠNG 3: VÙNG ĐẤT THỦ DẦU MỘT QUA CÁC THỜI KÌ LỊCH SỬ

3.1. Thủ Dầu Một trước khi người Việt đến khai phá

3.2. Thủ Dầu Một thời kỳ người Việt đến khai phá

3.3. Thủ Dầu Một thời kỳ thuộc huyện Bình An

3.4. Tỉnh Thủ Dầu Một dưới thời Pháp thuộc

3.5. Thủ Dầu Một thời kỳ thuộc tỉnh Bình Dương

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về địa danh Thủ Dầu Một và quá trình hình thành

Địa danh Thủ Dầu Một không chỉ là một cái tên mà còn là biểu tượng của một vùng đất có lịch sử lâu dài và phong phú. Từ những năm 1900, Thủ Dầu Một đã trở thành một đơn vị hành chính quan trọng, phản ánh sự phát triển của vùng đất này qua các thời kỳ lịch sử. Quá trình hình thành tên gọi Thủ Dầu Một gắn liền với sự khai phá và phát triển của người Việt tại miền Nam, đặc biệt là trong bối cảnh lịch sử của thế kỷ 20. Tên gọi này không chỉ đơn thuần là một địa danh mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa, lịch sử và xã hội sâu sắc.

1.1. Nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi Thủ Dầu Một

Tên gọi Thủ Dầu Một có nguồn gốc từ cây Dầu, một loại cây đặc trưng của vùng đất này. Theo các tài liệu lịch sử, tên gọi này được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1869, khi Thủ Dầu Một được công nhận là một đơn vị hành chính. Ý nghĩa của tên gọi không chỉ phản ánh đặc điểm tự nhiên mà còn thể hiện sự gắn bó của người dân với vùng đất này.

1.2. Các giai đoạn phát triển của Thủ Dầu Một từ 1900 đến 1956

Trong giai đoạn từ 1900 đến 1956, Thủ Dầu Một trải qua nhiều biến động lịch sử. Từ một hạt nhỏ, Thủ Dầu Một đã trở thành tỉnh, chứng kiến sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Các sự kiện lịch sử quan trọng như sự khai thác tài nguyên, phát triển nông nghiệp và công nghiệp đã góp phần định hình nên diện mạo của Thủ Dầu Một ngày nay.

II. Những thách thức trong việc nghiên cứu địa danh Thủ Dầu Một

Việc nghiên cứu về Thủ Dầu Một không chỉ đơn thuần là tìm hiểu về tên gọi mà còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các tài liệu lịch sử thường không đầy đủ và có sự khác biệt trong cách ghi chép. Điều này tạo ra khó khăn trong việc xác định nguồn gốc và ý nghĩa chính xác của tên gọi. Hơn nữa, sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ cũng làm cho việc nghiên cứu trở nên phức tạp hơn.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập tài liệu lịch sử

Nhiều tài liệu liên quan đến Thủ Dầu Một đã bị thất lạc hoặc không còn nguyên vẹn. Việc tìm kiếm và xác minh thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau là một thách thức lớn. Các nhà nghiên cứu cần phải đối chiếu và phân tích nhiều nguồn tài liệu để có cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử của địa danh này.

2.2. Sự thay đổi địa giới hành chính và ảnh hưởng đến nghiên cứu

Sự thay đổi địa giới hành chính từ Thủ Dầu Một sang tỉnh Bình Dương đã tạo ra những khó khăn trong việc xác định ranh giới và các giá trị lịch sử của địa danh. Các nhà nghiên cứu cần phải nắm rõ các giai đoạn lịch sử để có thể phân tích chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Thủ Dầu Một.

III. Phương pháp nghiên cứu địa danh Thủ Dầu Một hiệu quả

Để nghiên cứu về Thủ Dầu Một, các phương pháp nghiên cứu lịch sử và địa danh học cần được áp dụng một cách hiệu quả. Việc kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic sẽ giúp làm rõ mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử và sự hình thành tên gọi. Ngoài ra, việc thu thập và phân tích tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau cũng là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu.

3.1. Phương pháp lịch sử trong nghiên cứu địa danh

Phương pháp lịch sử giúp xác định bối cảnh và thời gian hình thành của Thủ Dầu Một. Qua đó, các nhà nghiên cứu có thể phác họa lại bức tranh lịch sử của vùng đất này, từ đó hiểu rõ hơn về sự phát triển của nó qua các thời kỳ.

3.2. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Việc thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau như sách, báo, tài liệu lưu trữ là rất cần thiết. Các nhà nghiên cứu cần phải biết cách phân tích và xử lý thông tin để có thể đưa ra những kết luận chính xác về Thủ Dầu Một.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu địa danh Thủ Dầu Một

Nghiên cứu về Thủ Dầu Một không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giáo dục và bảo tồn văn hóa. Những giá trị lịch sử và văn hóa của Thủ Dầu Một cần được truyền tải đến thế hệ trẻ, giúp họ hiểu rõ hơn về nguồn cội và truyền thống của quê hương. Hơn nữa, việc bảo tồn các giá trị văn hóa cũng góp phần phát triển du lịch và kinh tế địa phương.

4.1. Giáo dục và truyền bá văn hóa địa phương

Việc nghiên cứu và giảng dạy về Thủ Dầu Một trong các trường học sẽ giúp thế hệ trẻ nhận thức rõ hơn về lịch sử và văn hóa của quê hương. Điều này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa mà còn tạo ra lòng tự hào về nguồn cội.

4.2. Phát triển du lịch dựa trên giá trị lịch sử

Các giá trị lịch sử của Thủ Dầu Một có thể được khai thác để phát triển du lịch. Việc xây dựng các tour du lịch lịch sử sẽ thu hút du khách, đồng thời tạo ra nguồn thu cho địa phương và nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu địa danh Thủ Dầu Một

Nghiên cứu về Thủ Dầu Một là một lĩnh vực còn nhiều tiềm năng. Những giá trị lịch sử và văn hóa của địa danh này cần được tiếp tục khai thác và phát triển. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị này không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương. Tương lai của Thủ Dầu Một sẽ phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư vào nghiên cứu và bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn giá trị lịch sử

Bảo tồn các giá trị lịch sử của Thủ Dầu Một không chỉ giúp gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển kinh tế. Các hoạt động bảo tồn cần được thực hiện một cách đồng bộ và có kế hoạch.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu địa danh

Nghiên cứu về Thủ Dầu Một cần được mở rộng và cập nhật thường xuyên. Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục tìm kiếm và khai thác các nguồn tài liệu mới, đồng thời kết hợp với các phương pháp nghiên cứu hiện đại để có cái nhìn toàn diện hơn về địa danh này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ địa danh thủ dầu một quá trình hình thành ý nghĩa và các giá trị lịch sử 1900 1956

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội tỉnh Thủ Dầu Một. Chƣơng 2: Nguồn gốc tên gọi Thủ Dầu Một - ý nghĩa phản ánh những giá trị hiện thực. Chƣơng 3: Vùng đất Thủ Dầu Một qua các thời kì lịch sử. 9 CHƢƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THỦ DẦU MỘT 1.

Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tỉnh Thủ Dầu Một nguyên là một dãy đất hợp nằm dài trên 200 cây số, từ Đông Bắc đến Tây Nam trên cuối rặng Hoành Sơn của trung tâm Cao Nguyên đi dốc, hơi xuống đồng bằng thấp của Nam phần, giữa 2 lƣu lƣợng của sông Bé phía Đông và sông Sài Gòn phía Tây. Do một Nghị định của Toàn quyền Đông Dƣơng kí ngày 2 tháng 12 năm 1910, ranh giới của tỉnh đƣợc xác định lại từ ngày 15 tháng 9 năm 1911 nhƣ sau: Phía Bắc, giáp với tỉnh Kratié1 từ đƣờng thung lũng Fonlé chạm đến một khúc quanh của sông này về hƣớng Đông. Nơi đây có một con đƣờng xuyên về phía Bắc và Tây Bắc, thông đến giao điểm của Preck - Chrieu với Quốc lộ 13.

Đƣờng ranh theo sông Preck - Chrieu đến tận nguồn và tiếp với một đƣờng thẳng đi hơi song song với vĩ tuyến 12 đến Preck - Jerman. Dài theo sông này đến tận nguồn rẽ sang phía Đông Nam đến ngã ba sông Dok - Hoyt đi theo trở lên sông Dok - Hoyt đến tận nguồn của sông này. Phía Nam, giáp tỉnh Gia Định bởi một đƣờng ranh giới với sự thỏa thuận vô điều kiện, chạy dài từ Tuy An thông ra sông Sài Gòn tại ngã ba của rạch Gò Dƣa. Phía Đông, do một đƣờng ranh nhân tạo từ làng Tuy An đi cập ven đồi dài theo lƣu vực sông Đồng Nai thẳng với thung lũng của suối Bà Phổ Hiền.

Tại đây, đƣờng ranh ấy đi dọc theo con lộ địa phƣơng số 1, cong theo sông Bé lên phía thƣợng lƣu sông Phƣớc Hòa, tại đây chạy theo lƣu vực sông đến tận nguồn. Phía Tây, giáp với sông Sài Gòn tạo thành đƣờng thiên nhiên với các tỉnh Gia Định, Tây Ninh và Kompong - Cham (Cao Miên) [82;12]. Diện tích toàn tỉnh lúc bấy giờ độ khoảng 500.000 mẫu gồm có cả phần đất mới khắc phục ở phía bắc Bù Đốp và phía đông Dok - Hoyt (số liệu năm 1911). Vị trí của tỉnh Thủ Dầu Một có bề dài nhƣng không có bề ngang: từ Tây Kratie là một tỉnh ở phía đông Campuchia.

1 10 Nam đến Đông Bắc trên 200 cây số mà từ Đông sang Tây nơi rộng nhất không quá 40 cây số [93;1]. Địa thế - địa chất Tỉnh Thủ Dầu Một thuộc miền Đông Nam Bộ, tổng thể là một vùng cao nguyên, độ cao trung bình không quá 180 thƣớc, địa hình mang nhiều yếu tố đặc trƣng của miền trung du với địa hình đồng bằng, đồi núi thấp, địa thế chia làm hai vùng riêng biệt: Vùng phía nam có thổ nhƣỡng và hình thể giống nhƣ các miền khác ở Nam Kỳ là vƣờn tƣợc, ruộng rẫy đƣợc bao phủ bởi đồng bằng chiếm khoảng 1/6 diện tích tỉnh. Tại trung tâm Phú Cƣờng chủ yếu là đất sét pha cát (Argilo - siliceux) khá phì nhiêu do nƣớc sông Sài Gòn và nhiều con rạch bồi đắp hàng năm, đặc biệt là vùng tại xã Thuận Giao (Lái Thiêu) có nhiều đất sét trắng dùng để làm nguyên liệu sản xuất gốm. Vùng phía bắc là đồi núi thoai thoải nằm giữa sông Sài Gòn và sông Bé, toàn rừng và đồn điền cao su liên tiếp nằm trên các đồi, đất xám ít phì nhiêu ở phía Nam vì mặt đất không giữ đƣợc lâu bền lớp phân thiên nhiên sau khi đƣợc khai phá nên trồng trọt kém phát triển so với phía Nam, từ Bến Cát trở lên là đất đỏ đƣợc ngăn cách bởi các thung lũng nhỏ hẹp hay các con suối nhỏ.

Sông ngồi - khí hậu Nhƣ đã nói, Thủ Dầu Một thuộc miền Đông Nam Bộ nằm ở vĩ tuyến thấp, nhiệt độ và độ ẩm ổn định, đƣợc bao bọc bởi các con sông lớn. Sông Sài Gòn là ranh giới thiên nhiên của tỉnh về phía Tây Tỉnh lỵ, bắt nguồn từ một vùng đồi cao (cao độ 150m - 157m) thuộc quận Lộc Ninh, tỉnh Bình Long. Sông dài 261,9km chảy qua các tỉnh Bình Long, Tây Ninh theo hƣớng Đông Bắc Tây Nam rồi mới vào địa phận tỉnh Thủ Dầu Một tại phía Bắc của hợp lƣu sông Sài Gòn và sông Prek-Chak-Ân-Chang (tỉnh Kampot ở Campuchia). Phần thƣợng lƣu của sông chỉ là dòng suối nhỏ, bề ngang không tới 20m, uốn khúc ở nhiều nơi.

Khi qua Tỉnh lỵ Phú Cƣờng (cách nguồn 209,5km), lòng sông rộng hơn 200m rồi kéo dài đến ranh giới với tỉnh Gia Định (cầu Vĩnh Bình) sau khi đã chảy qua Bà Lụa, An Sơn và Lái Thiêu với những vƣờn cây trái xanh tƣơi hai bên bờ. Sông Sài Gòn mang lại nhiều nguồn lợi thiên nhiên cho 11 tỉnh Thủ Dầu Một. Ngoài việc bồi đắp phù sa cho các đồng bằng Bến Cát, Phú Hòa, Lái Thiêu,… sông Sài Gòn là thủy lợi huyết mạnh của tỉnh nhất là khúc sông từ Bến Súc trở xuôi, thƣờng đƣợc dùng chuyên chở cao su, từ các vùng trong tỉnh về đô thị Sài Gòn. Sông Bé là ranh giới ngăn cách với tỉnh Biên Hòa, “sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc Rơ Láp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1000 mét” [5;78].

Sông Bé có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều khúc có đá ngầm, ghềnh thác rất nguy hiểm nên không thuận lợi cho quá trình vận chuyển giao thông đƣờng thủy nhƣ sông Sài Gòn. Tuy nhiên đây là một con sông đã góp phần không nhỏ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lƣợc, dòng sông Bé đã trở thành chiến hào thiên nhiên góp phần ngăn chặn bớt đi mức độ càn quét, đánh phá của kẻ thù vào các căn cứ địa của ta. Ngoài 2 sông lớn ra còn có những kênh rạch và suối nhỏ, trong đó: Sông Thị Tính, bắt nguồn từ đồi Cam Xe chạy ngang qua vùng Bến Cát đổ ra sông Sài Gòn tại cầu Ông Cộ, đem lại nhiều phù sa màu mỡ cho đồng bằng Bến Cát, cung cấp một lƣợng nƣớc lớn để sản xuất nông nghiệp, dài trên 25 cây số, ở đây có nhiều đồng lúa xanh tƣơi hơn là những vƣờn trái cây vì đất bị ngập nƣớc chỉ thích hợp cho trồng lúa. Các vùng canh tác quan trọng: cây thị Phú An, An Điền, xóm Mƣơng Đào…[82;14].

Suối Bến Trúc, đây là con suối ngƣời dân chủ yếu khai thác cát, hàng năm cung cấp trên 800 tấn cát, đƣợc bắt nguồn từ xã Chánh Phú Hòa của Bến Cát chảy qua Thái Hòa đến giáp với rạch Thị Tính. Suối Ông Thiềng, ngoài việc cung cấp lƣợng nƣớc dồi dào, suối này cũng cung cấp hàng năm khoảng 400 tấn cát trắng. Con suối đƣợc bắt nguồn từ xã Phú Chánh (Châu Thành) chảy qua xã Tƣơng Bình Hiệp và Chánh Hiệp. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một còn có nhiều con sông, con rạch nhƣ: sông Bà Lụa, rạch Bình Nhâm, Vĩnh Bình, suối Bà, suối Bến Học, suối Đá, suối Cát,… rải rác tại các vùng đồng bằng ăn thông ra sông Sài Gòn.

Nhìn chung, hệ thống các con sông, con suối, đã góp phần lớn về mặt giao thông và nhất là cung cấp một nguồn nƣớc ổn định cho nông nghiệp phát triển. 12 Về mực nƣớc trung bình, ít bị ngập lụt, “giếng nước ở vùng đất cao, mực nước sâu từ 20 đến 35 thước, ở vùng đất thấp từ 2 đến 10 thước và vùng bưng mùa nắng thì khô, mùa mưa nước lên cao từ 6 tấc đến 1 thước 50” [82;15]. Cùng với sông ngồi, khí hậu nơi đây giống với các tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, khí hậu vùng này mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa: gió Nam mùa mƣa, gió Bắc mùa lạnh, gió chƣớng mùa nóng. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 dƣơng lịch.

Thƣờng thƣờng, 2 năm đều có mƣa dầm liên tiếp từ 2 đến 5 ngày, cũng có năm mùa mƣa kéo dài tới gần cuối tháng chạp mới chấm dứt. Nhiệt độ, mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng Giêng dƣơng lịch từ 170C - 200C; mùa nóng từ tháng 2 đến tháng 4 dƣơng lịch từ 300C - 350C. Độ ẩm trung bình 76% - 80% trong khoảng cách dịch chuyển từ 66% - 86%. Lƣợng mƣa trung bình từ 1.800mm đến 2000mm.

Đặc điểm kinh tế Đã từ rất lâu mỗi khi nhắc đến vùng đất Thủ Dầu Một, ngƣời ta chỉ nhớ đến thức ăn ở Lái Thiêu là nem và trái cây ngọt cùng với bánh bèo nổi tiếng ở vùng An Thạnh (chợ Búng). Và cũng không ít ngƣời nhắc đến ngƣời đẹp Bình Dƣơng mà dƣờng nhƣ chúng ta quên hẳn dòng sông Sài Gòn quanh co soi mình chảy qua những vùng rừng xanh trùng điệp, quên hẳn những đồn điền xa tắp, quên cả những nhà máy đƣờng quan trọng của miền Đông và lắm khi quên đi những tác phẩm sơn mài nổi tiếng khắp năm châu. Hiện nay, nhiều ngƣời đã quên nơi đây đã từng quyết định không nhỏ đến cục diện chiến trƣờng khi chiến tranh diễn ra. Lúc bấy giờ, Thủ Dầu Một còn là những khu tị nạn chiến tranh quan trọng với một vài trung tâm thƣơng mại phồn thịnh, dẫu chiến trƣờng sôi bỏng nhƣng chính lúc đó Thủ Dầu Một tự khoác lên cho mình bộ mặt mới để vƣơn mình phát triển trên nhiều phƣơng diện.

Do có một địa thế đặc biệt là rừng rậm, chồi và vƣờn tƣợc nối tiếp nhau qua những vùng đất khi xuống thung lũng lúc lên đồi, nên các ngành trồng cây ăn trái, cây kỹ nghệ, ngành tiểu thủ công nghệp và đặc biệt là các đồn điền có điều kiện phát triển. Trong đó, vùng hƣớng Nam toàn là vƣờn tƣợc, ruộng rẫy bao phủ một đồng bằng độ 1/6 diện tích của tỉnh. Vùng hƣớng Bắc gồm toàn rừng và đồn điền cao su liên tiếp nhau. Nông nghiệp 13 Mặc dù trên địa phận tỉnh Thủ Dầu Một có hệ thống sông ngòi chằng chịt và có rất nhiều kênh, rạch, suối nhỏ rải rác tại các vùng đồng bằng ăn thông ra sông Sài Gòn rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp.

Tuy nhiên do rừng rậm nối tiếp nhau chiếm nhiều diện tích đất đai. Bởi vậy, ngành nông nghiệp đặc biệt là lúa gạo khó phát triển. So sánh diện tích trồng lúa ở Thủ Dầu Một với các tỉnh/vùng khác ở Nam kỳ, cùng thời điểm: Tỉnh Diện tích ruộng Diện tích tự nhiên Tỷ lê ( diện tích lúa ruộng lúa/diện tích tự nhiên) Bà Rịa 12.000 13% Mƣời Gia Định 56.500 4,7% Thủ Dầu Một 13.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ