Chương 1. ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ VÀI NÉT VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ 1. Đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến xã hội Việt Nam 1. Khái niệm đô thị và đô thị hóa Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [49].
Còn theo Từ điển Tiếng Việt, đô thị là “nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn” [33, tr 332]. Trong Giáo trình quy hoạch đô thị, Đại học Kiến trúc Hà Nội có viết: “ Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị”. Như vậy, đô thị có thể hiểu là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; thương mại, công nghiệp và dịch vụ phát triển, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, hoặc một vùng miền, một tỉnh, hay một huyện. Đô thị hóa là một quá trình phát triển kinh tế- xã hội, mà biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng và quy mô các đô thị, dân cư tập trung đông tại các thành phố, đô thị, lối sống thành thị cũng càng được phổ biến rộng rãi.
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, nếu tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. thì đó là mức độ đô thị hóa. Còn nếu tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố trên theo thời gian người ta gọi là tốc độ đô thị hóa. Đô thị hóa sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển.
download by : skknchat@gmail. Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của tất cả các nước phát triển trên thế giới. Đặc biệt khi nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng nâng cao thì quá trình đô thị hóa càng phát triển. Ở nước ta, do đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp nên quá trình đô thị hóa diễn ra còn chậm và chưa đồng đều giữa các vùng miền trên cả nước.
Theo dòng lịch sử, trở về với thời kì nhà nước Văn Lang- Âu Lạc thế kỉ III trước Công nguyên, thành Cổ Loa được coi là đô thị đầu tiên ở nước ta. Thành Cổ Loa cũng đã trở thành niềm tự hào, kiêu hãnh của người dân Âu Lạc một thời. Đến thời kì phong kiến từ thể kỉ X trở đi, một số đô thị được hình hành ở những nơi có vị trí địa lí thuận lợi. Thế kỉ XI xuất hiện thành Thăng Long, Thăng Long trở thành kinh đô phát triển vào bậc nhất ở nước ta thời phong kiến.
Bên cạnh đó là các đô thị khác như Phố Hiến, Hội An, Huế… Dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền câu ca: Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến. Tuy nhiên trong suốt chiều dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, đô thị nước ta chưa thực sự phát triển. Các đô thị thời đó chủ yếu thực hiện chức năng chính trị, văn hóa hơn là phát triển kinh tế. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX do ảnh hưởng của quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhiều đô thị cũng được hình thành như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… Lối sống thị dân Phương Tây bắt đầu du nhập vào Việt Nam có tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội.
Bộ mặt đô thị thời kì này cũng có nhiều thay đổi so với thời kì phong kiến. Tuy nhiên, hệ thống đô thị bấy giờ vẫn nhỏ, lẻ. Chức năng chủ yếu vẫn là hành chính, quân sự, kinh tế chưa thực sự phát triển. Từ năm 1945 đến năm 1954, quá trình đô thị hoá vẫn diễn ra chậm, các đô thị không có sự thay đổi nhiều.
Đây là thời kì chúng ta tiến hành cuộc trường kì download by : skknchat@gmail.com 13 kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng gian khổ. Do hoàn cảnh chiến tranh nên kinh tế xã hội kém phát triển. Cũng vì thế quá trình đô thị hóa không phát triển. Từ năm 1954 đến năm 1975 đô thị phát triển theo hai xu hướng khác nhau: Ớ miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã dùng đô thị hoá như một biện pháp để dồn dân phục vụ chiến tranh.
Vì thế quá trình đô thị hóa diễn ra ở đây khá phức tạp và có nhiều biểu hiện tiêu cực. Còn ở miền Bắc, đô thị hóa gắn liền với quá trình xây dựng XHCN, nhưng từ 1965 đến 1972, các đô thị bị chiến tranh phá hoại, quá trình đô thị hoá chững lại. Do đế quốc Mĩ leo thang bắn phá Miền Bắc nên nhiều khu đô thị bị ném bom thiệt hại nặng nề nhất là thủ đô Hà Nội. Từ năm 1975 đến nay, quá trình đô thị hóa có chuyển biến khá tích cực.
Đặc biệt từ sau năm 1986, đất nước ta bước vào thời kì đổi mới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân dân trong đó vừa có những mặt tích cực, song cũng không tránh được những hệ lụy tiêu cực. Có thể nói, các đô thị ở nước ta chủ yếu là đô thị vừa và nhỏ, ít nhiều vẫn ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp. Đây cũng là đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hóa ở nước ta, vừa có sự giao thoa giữa văn hóa làng xã và văn hóa phố thị.
Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống xã hội Việt Nam Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế- xã hội- văn hóa Việt Nam, tích cực có mà hệ lụy tiêu cực cũng nhiều. Quá trình đô thị hóa đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển. Đô thị hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư. Các đô thị không download by : skknchat@gmail.com 14 chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.
Đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Theo đó, diện mạo kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Xã hội ngày càng phát triển theo hướng văn minh, hiện đại. Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.
Đặc biệt, trình độ dân trí cũng được nâng cao, con người không ngừng được mở rộng giao lưu văn hóa với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt. Đó thực sự là những thành tựu đáng tự hào mà Đảng và Nhà nước ta đã làm được. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng cũng gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực.
Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển đến thành phố. Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng gây nguy cơ mất an toàn trật tự xã hội… Đặc biệt, đô thị hóa tác động trực tiếp đến văn hóa truyền thống, làm thay đổi lối sống đạo đức của người Việt. Con người, nhất là con người ở đô thị có xu hướng sùng ngoại, chạy theo lối sống Phương Tây, đề cao giá trị vật, hình thành lối sống, lối suy nghĩ thực dụng, bất chấp nền tảng đạo đức, luân lí truyền thống của dân tộc. Đứng trước vòng xoáy của tiền tài, danh vọng, trước sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường nhiều người đã không giữ được nhân cách của mình.
Vậy nên, hiện tượng băng hoại về mặt đạo đức ngày càng nhiều, con người trượt dài trên con đường tha hóa, biến chất vì cám dỗ vật chất. Chính điều đó đẩy con người rơi vào bi kịch đau đớn không lối thoát. Đó cũng là thực trạng cay đắng, là những gam màu xám, những góc khuất của quá trình đô thị hóa. download by : skknchat@gmail.
Văn học đô thị Việt Nam 1. Văn học đô thị Ỏ nước ta, trong suốt nghìn năm phong kiến, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên văn học mang nặng tính giáo lí, đạo đức. Với quan niệm “thơ dĩ ngôn chí” (dùng thơ văn để tỏ chí, tỏ lòng), “văn dĩ tải đạo” (lấy văn chương để truyền dạy đạo đức), thơ văn trở thành công cụ đắc lực để truyền dạy tư tưởng, đạo lí. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng bày tỏ quan niệm văn chương của mình: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
Nhà văn lúc này cũng thường là những nhà Nho, những bậc trí thức sinh ra từ “cửa Khổng sân Trình” như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du. Vì thế có thể gọi đây là văn học cung đình của tầng lớp vua quan trong xã hội phong kiến xưa. Là một nước nông nghiệp, luôn tự hào bởi nền văn minh lúa nước nên văn học Việt Nam luôn hướng về nông thôn, sinh ra và ảnh hưởng chi phối của nền văn hóa này. Ở Việt Nam tuy không có dòng văn học được đặt tên cụ thể viết về nông thôn nhưng đề tài nông thôn là đề tài quen thuộc trong văn học.
Ngay từ thời trung đại, bên cạnh dòng văn học Cung đình, vẫn xuất hiện những tác phẩm viết về nông thôn. Nguyễn Khuyến là một minh chứng cụ thể. Ông được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”. Bức tranh đời sống của nông thôn Việt Nam được tái hiện sinh động giàu xúc cảm trong thơ Nguyễn Khuyến.
Đặc biệt là từ những năm ba mươi của thế kỉ hai mươi trở đi đề tài nông thôn đã trở đi trở lại trong nhiều sáng tác làm nên tên tuổi cho nhiều nhà văn lớn như: Nam Cao, Ngô Tất Tố, Kim Lân.