đặt vấn đề tiếp cận tác phẩm văn học nghệ thuật một cách toàn diện [22, tr. Phương pháp cấu trúc phát sinh hướng tới khía cạnh xã hội trong quá trình nghiên cứu văn học. Nhưng sáng tạo là sản phẩm của cá nhân, mang dấu ấn cá nhân nên L.Goldmann còn giải thích cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn học bằng những đặc điểm tiểu sử cá nhân tác giả, tức bổ sung thêm khía cạnh tâm lí học J.Piaget và phân tâm học của S. Nghiên cứu tâm lí sáng tạo của nhà thơ trong những trường hợp cụ thể chúng ta sẽ có thêm cơ sở để hiểu được các tầng nghĩa của tác phẩm và ý đồ nghệ thuật của nhà thơ.
Mặt khác sáng tạo là quá trình đi từ ý đồ và tâm trạng, tâm trạng thường gắn liền với nhạc điệu (nhạc điệu - tâm trạng) rồi mới đến là tập trung và thể hiện, nhập thân và thể hiện sau cùng là sửa chữa; sự hình thành thiên tài bên cạnh những lí giải liên quan đến tâm lí khác thường còn có yếu tố là di truyền (năng khiếu), hoàn cảnh và quá trình học tập. Như vậy khi nghiên cứu một tác phẩm văn học vừa phải tính đến yếu tố tâm lí của chủ thể lại vừa phải kể đến yếu tố lịch sử phát sinh trong quá trình sáng tạo. Tác phẩm không chỉ cố định trong cấu trúc văn bản mà tác phẩm là một quá trình. Nó là kết tinh của một cái gì trước đó, và sẽ gây tác dụng sau đó [22, tr.
19 z Theo đó lịch sử phát sinh là yếu tố ngoài văn bản nhưng là giai đoạn đầu của cảm hứng, xúc cảm tham gia vào quá trình sáng tạo văn bản. Nhưng nếu chỉ lấy yếu tố ngoài văn bản để giải thích văn bản thì dễ rơi vào xu hướng xã hội học. Vì thế xem xét một tác phẩm văn chương tính đến cả yếu tố tâm lí là yếu tố nội tại bên trong nhà văn sẽ khiến độ tham chiếu lớn hơn. Tìm hiểu tác phẩm từ hai hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo giúp ta tiếp cận chính xác và toàn diện hơn nội dung của văn bản.
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có phong cách nghệ thuật và quá trình sáng tạo độc đáo với đời sống tâm lí phức tạp, giằng xé. Không hiểu được tính độc đáo, phức tạp ấy sẽ không thể hiểu được ý nghĩa của các hình ảnh đã trở thành biểu tượng, cũng như không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ ông. Thực trạng dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay 1. Nguồn học liệu Đây thôn Vĩ Dạ là một tác phẩm nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu.
Vì thế trong quá trình dạy học tác phẩm này cũng đã có nhiều hướng tiếp cận khác nhau và mỗi hướng tiếp cận lại càng khiến bài thơ thêm lung linh ý nghĩa. Hiện nay hướng tiếp cận dạy học phổ biến là dựa vào hoàn cảnh sáng tác, các yếu tố chính về cuộc đời và phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử cũng như văn bản thơ để cắt nghĩa nội dung tư tưởng của tác phẩm. Nhưng dù nguồn tư liệu và các hướng tiếp cận từ trước đến nay thật phong phú thì việc hiểu tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ trên tinh thần tích cực, chủ động đối với học sinh vẫn không phải là công việc dễ dàng bởi bài thơ ít nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng siêu thực. Việc dạy học bài tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ từ hướng tiếp cận lịch sử phát sinh và tâm lí học sáng tạo sẽ cung cấp một cách nhìn toàn diện và độ tham chiếu lớn hơn cho thầy và trò trong quá trình tìm hiểu tác phẩm đã trở nên rất quen thuộc.
Thực trạng dạy học bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” 1. Đối tượng khảo sát 20 z Để tìm hiểu tình hình dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ trong nhà trường Phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát hai đối tượng cơ bản tham gia vào quá trình dạy học trong nhà trường đó là giáo viên và học sinh. Đối với giáo viên, chúng tôi tìm hiểu, phân tích, đánh giá qua bài soạn giảng và việc dự giờ những tiết giảng của giáo viên ở hai trường Trung học phổ thông Việt – Úc, Hà Nội và Trung học phổ thông Đoàn Thị Điểm, Hà Nội. Từ đó chúng tôi rút ra những điều đã đạt được, những ưu điểm cũng như những hạn chế trong quá trình dạy học tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ ở trường Phổ thông hiện nay.
Đối với học sinh – vừa là đối tượng tiếp nhận vừa là chủ thể của quá trình dạy học, việc khảo sát cần phải đánh giá được mức độ tiếp nhận của học sinh về tác phẩm. Thông qua việc dự giờ và cho học sinh làm các bài test, các bài luận để thấy được những yêu cầu, mục đích của bài học đã đạt được ở mức độ nào. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xem xét, rút ra những đánh giá chung về thực trạng dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ từ việc sưu tầm, tuyển đọc các sách tham khảo của các tác giả khác nhau viết về bài thơ từ đó thấy được những vấn đề và khía cạnh thường được đề cập đến trong khi nghiên cứu. Quá trình khảo sát Trong quá trình khảo sát để thực hiện đề tài chúng tôi đã tiến hành khảo sát với khối 11 của trường Trung học phổ thông Việt – Úc, Hà Nội và khối 11 của trường Trung học phổ thông Đoàn Thị Điểm, Hà Nội cùng vào tháng 1 năm 2013.
Cùng với đó, chúng tôi đã tham khảo một số giáo án và phần rút kinh nghiệm của một số giáo viên trong những năm học trước cũng như phỏng vấn các giáo viên đã dạy học bài Đây thôn Vĩ Dạ để bổ sung ý kiến và đánh giá kết quả khảo sát được khách quan, chính xác và toàn diện hơn. Quá trình khảo sát của chúng tôi lần lượt trải qua những bước như sau: Bước đầu chúng tôi tìm hiểu Sách giáo khoa, Sách giáo viên và xin phép tìm hiểu giáo án của các giáo viên dạy khối 11 ở hai trường trước khi dự giờ. Từ đó, chúng tôi nhận thấy các giáo án được khảo sát có sự triển khai linh hoạt nhưng hầu hết đều bám sát hướng dẫn soạn giảng của Sách giáo viên, Thiết kế bài giảng và Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. 21 z Bước hai, chúng tôi đã dự giờ sau đó xem vở ghi của học sinh.
Chúng tôi thấy rằng, những kiến thức giáo viên định hướng, triển khai trong quá trình dạy học và những gì học sinh ghi chép lại đều đi rất nhanh qua phần tìm hiểu chung về tác giả và hoàn cảnh sáng tác. Học sinh ghi nhớ và đã nắm được năm sinh, năm mất, quê quán, gia đình, một số mốc sự kiện quan trọng trong cuộc đời tác giả và biết được “qua diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế”. Điều này có nghĩa là học sinh chưa nắm được thật chắc ảnh hưởng sâu xa của cuộc đời đến thi pháp của Hàn Mặc Tử, cũng như những khía cạnh tiêu biểu nhất trong phong cách sáng tác của nhà thơ được biểu hiện nhất quán trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ mà chỉ nhớ một cách chung chung là “diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn”. Ở phần giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác bài thơ, học sinh được định hướng là: theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc (người mà thi sĩ yêu đơn phương) là một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi xứ Huế thơ mộng và trữ tình.
Giáo viên hầu như chỉ nhắc đến sự kiện Hàn Mặc Tử bị bệnh phong và nhận được bức bưu ảnh của Hoàng Cúc mà chưa phân định rạch ròi điều gì là khởi nguồn sâu xa và điều gì chỉ là nhân tố làm bùng phát những cảm xúc đã có sẵn trong con người nhà thơ. Nếu phần hoàn cảnh sáng tác bài thơ mà giáo viên nhấn mạnh được điều này thì hành trình tìm hiểu một bài thơ vốn “phức tạp và đầy bí ẩn” này sẽ sáng rõ và logic hơn. Thêm nữa việc định hướng ngay từ đầu ý nghĩa của nhan đề bài thơ cũng như việc đổi tên nhan đề từ Ở đây thôn Vĩ Dạ sang Đây thôn Vĩ Dạ cũng là một trong những cơ sở để tìm ra sự thống nhất, xâu chuỗi các hình ảnh trong bài thơ. Ở phần tìm hiểu chi tiết văn bản, giáo viên định hướng học sinh tập trung khai thác sâu vào ý nghĩa của từng hình tượng, nghệ thuật biểu hiện hình tượng trong ba khổ thơ để từ đó khái quát nội dung tư tưởng của cả tác phẩm.
Câu hỏi gợi ý chủ đạo cho ba khổ thơ lần lượt là: Phân tích nét đẹp của phong cảnh và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu? Hình ảnh gió, mây, sông, trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm xúc gì? Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào? Chút hoài nghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời không? Vì sao? Từ việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi này, giáo viên đi đến khái quát: với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. Với cách triển khai này, hầu như học sinh được cắt nghĩa từng khổ thơ một cách độc lập. Như vậy 22 z việc hiểu một cách thấu đáo và sâu sắc bài thơ quả thực là yêu cầu khó khăn với học sinh khi trải nghiệm còn non nớt. Học sinh chưa nắm được mạch luận lí, sợi dây xâu chuỗi các hình ảnh trong ba khổ thơ tưởng như chẳng mấy liên quan đến nhau ấy chính là nguồn cảm xúc đau thương ngầm ẩn ở bên trong.
Theo đó việc tìm hiểu bài thơ cũng chưa gợi ra được nỗi đồng cảm sâu xa với niềm đau thân phận của con người và sự trân trọng một lối sống tích cực tha thiết đắm say với cuộc đời và con người của các nhà Thơ mới ngay khi ở trong hoàn cảnh tột cùng đau khổ.