phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 1. Gia đình và gia đình Việt Nam truyền thống 1. Gia đình Trong lịch sử nhân loại, từ khi hình thành xã hội loài người cho đến nay đã trải qua những hình thức và kiểu gia đình khác nhau.
Do vậy mà đã có rất nhiều quan niệm, định nghĩa về gia đình được đề cập đến ở các góc độ khác nhau. Có thể khái quát một số định nghĩa về gia đình như sau: Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” khi nói về gia đình, C. Mác viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [5, tr. Như vậy, theo quan điểm của C.
Mác, gia đình ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân con người. Gia đình được tạo ra bởi hai quan hệ cơ bản, là quan hệ hôn nhân giữa chồng và vợ, sau đó là quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Gia đình có hai nhiệm vụ chính: một là sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu cho cá nhân và hai là gia đình đóng góp vào sự phát triển xã hội đồng thời tái sản xuất con người để duy trì nòi giống - đảm bảo cho sự trường tồn của xã hội. Theo Levi Strauss thì gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi ba đặc điểm nổi bật là: bắt nguồn từ hôn nhân bao gồm vợ chồng, con cái phát sinh từ sự hôn phối của đôi nam nữ, tuy nhiên trong gia đình có mặt của những người họ hàng, bà con hoặc con nuôi, họ gắn bó với nhau bởi các nghĩa vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế và về sự cấm đoán tình dục giữa các thành viên.
Theo quan niệm này thì khái niệm gia đình khá rộng, nó không chỉ dừng lại ở mối quan hệ vợ - chồng - con cái (hôn nhân, huyết thống), sự ràng buộc về 9 nghĩa vụ và quyền lợi về mặt kinh tế. Nó còn bao hàm cả những người họ hàng, những người con nuôi và nó có giới hạn về hôn nhân giữa những người cùng huyết thống. Theo nhà xã hội học Nga T. Phanaxeva thì có ba loại quan niệm về gia đình: - Thứ nhất: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội có liên kết với nhau bằng chỗ ở, bằng một ngân sách chung và các mối quan hệ ruột thịt.
- Thứ hai: Gia đình là một nhóm nhỏ có quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau bằng tình cảm và trách nhiệm. - Thứ ba: Gia đình hiện đại là một nhóm xã hội bao gồm cha mẹ và con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có mối quan hệ ràng buộc về vật chất, tinh thần theo những nguyên tắc, mục đích sống như nhau về các vấn đề chủ yếu trong sinh hoạt. Như vậy, trên thế giới, ở từng lĩnh vực khác nhau lại có cách định nghĩa khác nhau về gia đình tùy theo góc độ nghiên cứu. Ở Việt Nam cũng vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình.
Gia đình là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, Văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới. Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình. Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình”[12, tr 429, 430]. Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì gia đình được định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ 10 huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật hôn nhân và gia đình” [28, tr.
Theo đó, trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên còn là quyền và nghĩa vụ phải thực hiện theo những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Các tác giả trong cuốn sách “Gia đình học” quan niệm: “Gia đình là một thiết chế đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái. Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là các mối quan hệ họ hàng. Đó là những sự liên kết ít nhất là hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi.
Những người này có thể sống cùng hoặc khác mái nhà với nhau” [20, tr. Do đó, những thành viên có thể có cùng huyết thống hoặc thông qua việc nhận con nuôi sống cùng một mái nhà vẫn có thể được gọi là gia đình. Giáo sư Lê Thi trong “Vai trò gia đình trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam” cho rằng: “Gia đình là một khái niệm dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống. Đồng thời gia đình có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống.
Các thành viên trong gia đình gắn bó nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Đồng thời, trong gia đình có quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [443, tr. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về gia đình ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Nhưng nhìn chung, gia đình được hiểu là sự gắn kết giữa các cá nhân dựa trên quan hệ hôn nhânvà quan hệ huyết thống, giữa vợ - chồng, giữa cha mẹ - con cái cùng với ông bà, anh chị em, có sự gắn kết nhau về trách nhiệm và quyền lợi, về kinh tế, về văn hóa và tình cảm.
Hiện nay, tồn tại phổ biến hai mô hình gia đình cơ bản, đó là: Gia đình truyền thống và gia đình hiện đại 11 (gia đình hạt nhân). Gia đình truyền thống là gia đình có thể cùng chung sống từ ba thế hệ trở lên, có ông bà- cha mẹ - con cái mà người ta thường gọi là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường”. Các thế hệ cùng chung sống có sự gắn bó tương đối chặt chẽ. Hình thức gia đình này tồn tại phần nhiều ở vùng nông thôn và vẫn còn giữ được những tập tục, nghi thức truyền thống.
Con cái có điều kiện chăm sóc ông bà cha mẹ khi đau yếu. Tuy nhiên, mô hình gia đình này cũng hạn chế tự do cá nhân. Việc cùng chung sống nhiều thế hệ cũng nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hàng ngày. Gia đình hiện đại hay gia đình hạt nhân tồn tại phổ biến ở các đô thị và một số ít ở vùng nông thôn.
Đây là kiểu gia đình trong đó có từ hai thế hệ trở xuống sống chung, tức là chỉ có hai vợ chồng hoặc hai vợ chồng và con của họ. Ngày nay, kiểu gia đình này ngày càng phổ biến bởi nó phù hợp và đáp ứng được những nhu cầu của cuộc sống hiện đại. Trong sự tồn tai của mình, gia đình phải thực hiện nhiều chức năng. Những chức năng này được quy định bởi nhiều yếu tố và trong lịch sử chức năng của gia đình có những biến đổi nhất định.
Gia đình ở Việt Nam đang thực hiện những chức năng cơ bản sau: Chức năng sinh đẻ, tái sản xuất ra con người. Chức năng này một mặt đáp ứng nhu cầu xã hội, mặt khác thỏa mãn nhu cầu của chính những thành viên trong gia đình; Chức năng kinh tế: là sự đảm bảo các nhu cầu sinh sống của các thành viên đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho xã hội; Chức năng xã hội hóa: Gia đình không chỉ có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng mà còn trong việc cư xử của trẻ em. Gia đình có trách nhiệm hoàn thiện nhân cách cho trẻ, đào tạo những công dân tốt cho xã hội; Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm: Đảm bảo sự cân bằng tâm lý, thỏa mãn nhu cầu tình cảm cho các thành viên, củng cố sự bền vững hôn nhân và gia đình, ổn định xã hội. Gia đình Việt Nam truyền thống Gia đình Việt Nam truyền thống cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và theo đó cũng có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau.
Cho đến nay “gia đình truyền thống” vẫn còn là một khái niệm rất dễ gây ra tranh luận giữa những người sử dụng nó. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “gia đình truyền thống”. Đôi khi người ta đồng nhất gia đình truyền thống với chỉ một trong số những nét nghĩa của nó, chẳng hạn như người ta đồng nhất gia đình truyền thống với gia đình Nho giáo hay gia đình phong kiến và coi chúng là những bất biến thể của cùng một hình thái gia đình… Gia đình truyền thống Việt Nam với tư cách là một định chế xã hội lâu đời và ít biến đổi, tồn tại trong một thời kỳ lịch sử lâu dài đã mang những đặc trưng riêng khác với gia đình hiện đại cũng như khác với gia đình truyền thống của một số quốc gia khác trong khu vực. Gia đình Việt Nam truyền thống là hình thái gia đình gắn liền với xã hội nông thôn - nông nghiệp có phương thức sản xuất khép kín.
Theo tác giả Trần Đình Hượu, “gia đình Việt Nam truyền thống là kiểu gia đình tồn tại trước khi chịu ảnh hưởng Âu hoá, nghĩa là tồn tại cho đến cuối thế kỷ XIX, về sau vẫn còn phổ biến, nhưng chủ yếu là ở nông thôn” [18, tr. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau bằng tình cảm, sự gắn bó giữa ông bà - cha mẹ - anh chị em… thường có ba, bốn thậm chí năm thế hệ cùng chung sống. Đây là kiểu gia đình phụ hệ, việc thờ cúng tổ tiên là hết sức quan trọng và vẫn còn chịu ảnh hưởng rất nhiều của Nho giáo.