MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế - văn hóa, xã hội an ninh quốc phòng. Đất đai có những tính chất đặc trưng khiến nó không giống bất kỳ tư liệu sản xuất nào, nó vừa cung cấp nguồn nước, dự trữ nguyên vật liệu khoáng sản, là không gian của sự sống, bảo tồn sự sống. Nhu cầu tăng trưởng kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho quan hệ giữa con người và đất ngày trở nên căng thẳng, những sai lầm lien tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến hủy hoại môi trường đất, một số chức năng của đất bị yếu đi hoặc mất đi.
Vấn đề sử dụng đất ngày càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu. Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, nên nhu cầu về đất đai là rất lớn. Do đó để quản lý nắm chắc được quỹ đất, đảm bảo được nhu cầu về đất đai cho các nghành, các lĩnh vực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy định về công tác quản lý nhà nước về đất đai, trong đó có quy hoạch sử dụng đất, đây là một trong những nội dung quan trọng. Điều 18 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam ghi rõ: “ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả ”.
Luật đất đai 1993; Luật sử đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1998 và 2001 (Điều 13) quy định: “Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất” là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Luật đất đai năm 2003 ( Mục 2, Điều 20 – 31) quy định rõ nội dung lập điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo nghành, theo cấp lãnh thổ hành chính. Luật đất đai 2013 ( Chương 4, Điều 35- 51) quy định rõ cụ thể về : Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai, đây là việc đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, phân bổ cho các mục đích sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, mang lại hiệu n 2 quả kinh tế cao nhất. Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm tổ chức, sử dụng một cách đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, tài nguyên đất.
Quy hoạch đất đai có nhiệm vụ bố trí lại nền sản xuất nông nhiệp, công nghiệp, các công trình xây dựng cơ bản, các công trình văn hóa, phúc lợi xã hội một cách hợp lý. Thọ Bình là một trong 4 xã miền núi của huyện Triệu Sơn, là một xã khó khăn của huyện, giao thông đi lại còn khó khăn.Kinh tế phát triển còn chậm chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của địa phương.Cùng với tốc độ đô thị hóa và phát triển như hiện nay thì tất yếu nảy sinh những mâu thuẫn và sự không đồng bộ về sử dụng đất giữa các nghành, các đối tượng, làm kìm hãm sự phát triển, phá vỡ cảnh quan môi trường. Xuất phát từ thực tế đó, được sự phân công của ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên và sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngọc Nông tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch sử dụng đất xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014.
Mục đích - Tìm hiểu và đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Thọ Bình giai đoạn 2010 - 2014. - Rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thọ Bình - Đánh giá thực trạng sử dụng các loại đất trên địa bàn xã Thọ Bình về số lượng, chất lượng, phân bố loại hình sử dụng, hiệu quả sử dụng đất, xu thế biến động các loại đất, mức độ đáp ứng nhu cầu đất đai cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã. - Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Thọ Bình trong các giai đoạn sau.
Ý nghĩa - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và trang bị những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và sử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. - Qua quá trình nghiên cứu về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại xã sẽ rút ra được những tồn tại, thiếu sót của công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có các giải pháp phù hợp để khắc phục. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đất đai và vai trò cuả đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế - xã hội 2. Khái niệm về đất đai Theo cách định nghĩa của FAO: “Đất đai là một tổng thể vật chất bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”. Như vậy đất đai là một phạm vi không gian như một vật mang những giá trị theo ý niệm của con người.
Theo cách định nghĩa này đất đai thường được gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích đất đai khi có sự chuyển quyền sở hữu (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2006, Giáo trình Kinh tế đất) [2]. Cũng có những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế xã hội của một tổng thể vật chất. “Đất đai” về thuật ngữ khoa học được hiểu là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy.), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại ( Nguyễn Ngọc Nông,Nguyễn Đình Thi, 2007 , Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất) [4]. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người, tồn tại ngoài ý muốn của con người và ngay từ kì sơ khai thì con người đã biết sử dụng đất để phục vụ cho đời sống của mình: để ở và sản xuất.
Đất đai là điều kiện vất chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động, do đó đất đai là “Tư liệu sản xuất”. Tuy nhiên đất đai có những tính chất đặc biệt khác với các tư liệu sản xuất khác: n 5 - Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động, chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Trong khi đó các tư liệu sản xuất khác là kết quả của sức lao động do con người tạo ra. - Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu.
Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tùy theo nhu cầu xã hội. - Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng, các tính chất lý hóa, quyết định bởi yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau. Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về tiêu chuẩn, quy cách. - Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là không thể làm được.
Các tư liệu sản xuất khác, tùy thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. - Tính cố định về vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định về vị trí trong sử dụng. Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng mọi chỗ mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách khác nhau tùy theo sự cần thiết. - Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu.
Nếu biết sử dụng hợp lý trong sản xuất nông nghiệp đất sẽ không bị thoái hóa, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất (Lương Văn Hinh và cộng sự, 2003, Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất,). Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế xã hội Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng gồm. Khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, diện tích mặt nước, thảm thực vật, động vật, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất theo chiều nằm ngang – trên bề mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình thủy văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khá. Nó có vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
n 6 Như vậy đất đai giữ vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. Mác khẳng định “ lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Đối với mỗi ngành khác nhau thì đất đai có vai trò khác nhau: 2.
Trong nghànhphi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tang dự trữ trong lòng đất.