Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam nằm tại vùng hạ lưu châu thổ sông Thu Bồn - Vu Gia, sở hữu đường bờ biển dài 125 km và khu vực đồi núi thượng nguồn chiếm tới 80% diện tích toàn tỉnh. Do đặc điểm địa hình trũng thấp cùng mạng lưới sông ngòi dày đặc, địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai lũ lụt và bão nhiệt đới. Trong lịch sử, trận đại hồng thủy năm 1964 từng ghi nhận mực nước dâng cao kỷ lục tới 3,40 m, và năm 2007 tiếp tục hứng chịu hai đợt lũ đặc biệt lớn với đỉnh lũ liên tiếp đạt 2,03 m và 3,28 m, gây tê liệt đời sống kinh tế - xã hội trên diện rộng. Dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu và hiện tượng nước biển dâng, hiểm họa ngập lụt tại Hội An có xu hướng gia tăng nhanh chóng cả về tần suất xuất hiện lẫn cường độ tàn phá.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Hội An – bao gồm 4 phân hệ cốt lõi: giao thông, cấp nước, tiêu thoát nước và cấp điện – còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, tính liên kết thấp và khả năng chống chịu yếu kém trước ngập úng cực đoan kéo dài. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến ngập lụt theo các kịch bản khí hậu năm 2020, 2050 và 2100, đồng thời định lượng hóa mức độ phơi bày, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống hạ tầng tại 11 phường, xã trên khu vực đất liền (với diện tích nghiên cứu thuộc địa bàn tỉnh có quy mô 10.406,83 km2). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa chi tiết chỉ số tổn thương đến từng đơn vị hành chính cơ sở, tạo lập luận cứ khoa học vững chắc giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách đầu tư nâng cao sức chống chịu đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn áp dụng khung lý thuyết đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư (IPCC 2007) và Báo cáo đặc biệt SREX (IPCC 2012). Theo đó, tính dễ bị tổn thương được mô hình hóa thành một hàm số đa biến: V = f(E, S, AC). Trong mô hình này, ba thành tố cấu thành gồm có:

  • Mức độ phơi bày trước hiểm họa (Exposure - E): Thể hiện sự hiện diện về mặt không gian địa lý của công trình hạ tầng, con người và tài sản kinh tế tại các vùng có nguy cơ ngập lụt.
  • Mức độ nhạy cảm (Sensitivity - S): Phản ánh đặc tính vật lý nội tại và mức độ dễ bị hư hỏng, đình trệ của hệ thống kỹ thuật khi tiếp xúc với các tác nhân ngập úng.
  • Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity - AC): Biểu thị khả năng dự báo, điều chỉnh cơ cấu, cải tạo kỹ thuật và phục hồi nhanh chóng của hệ thống hạ tầng và cộng đồng trước hiểm họa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp phương pháp đánh giá tổn thương ven biển của Balica và cộng sự (2012) cùng khung phân tích rủi ro đa cấp của Yusuf và Francisco (2009). Các khái niệm chính bao gồm: hiểm họa ngập lụt cực đoan, chỉ số nhạy cảm vật lý hạ tầng, chỉ số năng lực thích ứng tổng hợp và tính dễ bị tổn thương đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp phân tích không gian định lượng và điều tra khảo sát định tính thực địa. Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm chuỗi quan trắc thủy văn lịch sử từ năm 1964 đến 2013, niên giám thống kê năm 2011, hồ sơ quy hoạch phát triển đô thị thành phố Hội An đến năm 2030 và kết quả mô phỏng ngập lụt từ mô hình thủy lực MIKE 11 - GIS lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn do Viện Địa lý thực hiện năm 2010 theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành năm 2009.

Phương pháp phân tích không gian sử dụng phần mềm ArcGIS để số hóa, phân tích diện tích ngập, độ sâu ngập và thực hiện kỹ thuật chồng xếp bản đồ ngập lụt với bản đồ hiện trạng, quy hoạch 4 mạng lưới hạ tầng tại 11 phường, xã. Để xác định trọng số cho từng chỉ số thành phần, nghiên cứu triển khai phương pháp điều tra chuyên gia với cỡ mẫu gồm 30 cán bộ chuyên trách tại các phòng ban đô thị và chính quyền địa phương thông qua bảng hỏi chuẩn hóa. Việc lựa chọn phương pháp định lượng không gian kết hợp đánh giá đa tiêu chí giúp lượng hóa chính xác các tham số kỹ thuật phức tạp, đảm bảo độ tin cậy và tính thực tiễn cao cho toàn bộ quá trình nghiên cứu trong mốc thời gian từ năm 2013 và định hướng dài hạn đến năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống giao thông đường bộ có mức độ phơi bày rất lớn trước ngập lụt. Tỷ lệ đường bê tông nhựa hiện trạng toàn thành phố chỉ đạt khoảng 62%, trong khi tỷ lệ đất dành cho giao thông trên đất xây dựng dân dụng mới đạt 12%, thấp hơn định mức quy chuẩn kỹ thuật là 13%. Đặc biệt, tại xã Cẩm Kim, 100% mạng lưới đường sá chỉ là đường bê tông nông thôn và đường đất, dẫn đến tình trạng cô lập hoàn toàn khi mực nước lũ vượt ngưỡng ngập sâu trên 1,0 m.

Thứ hai, phân hệ cấp nước sạch bộc lộ tính tổn thương cao về nguồn nước và mạng lưới truyền dẫn. Nhà máy nước Hội An đạt công suất 6.500 m3/ngày đêm, phục vụ 75.000 dân với tiêu chuẩn đô thị loại III là 80 lít/người/ngày đêm. Khi lũ lớn xảy ra, nguồn nước mặt lấy từ sông Vĩnh Điện (chiếm 4.500 m3/ngày đêm) bị đục ngầu do bùn cát và nhiễm mặn, trong khi nguồn nước ngầm 2.000 m3/ngày đêm khai thác ở tầng nông dưới 12 m đối mặt nguy cơ ngập giếng khoan và ô nhiễm vi sinh.

Thứ ba, hệ thống tiêu thoát nước nội thị dù sở hữu 48,7 km cống trọng lực và 3,5 km cống áp lực dẫn về trạm xử lý nước thải công suất 6.700 m3/ngày đêm tại Cẩm Thanh (phục vụ 38.000 dân thuộc 4 phường trung tâm), nhưng vẫn vận hành theo hình thức thoát nước chung giữa nước mưa và nước thải. Khi triều cường dâng cao, toàn bộ cửa xả ra sông bị ngập sâu làm vô hiệu hóa khả năng tự chảy, gây ngập úng ngược nghiêm trọng tại các phường Minh An, Cẩm Phô và Sơn Phong.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tính dễ bị tổn thương cao của hạ tầng kỹ thuật Hội An xuất phát từ vị trí địa lý đặc thù tại cửa sông giáp biển, nơi độ dốc địa hình cực nhỏ khiến dòng chảy thoát lũ bị triều cường ngăn cản. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh làm bê tông hóa bề mặt, suy giảm diện tích ao hồ điều hòa tự nhiên, trong khi hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư kiên cố hóa đồng bộ theo tiêu chuẩn thích ứng khí hậu.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại lưu vực sông Thạch Hãn (Quảng Trị) hay sông Đáy (Hà Nội), thành phố Hội An có mức độ nhạy cảm cao hơn đáng kể do gắn liền với quần thể di sản kiến trúc gỗ cổ và mật độ lưu trú du lịch đậm đặc. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống bản đồ phân vùng tổn thương ArcGIS và các biểu đồ so sánh: biểu đồ cột biểu diễn tương quan giữa tỷ lệ nhựa hóa và năng lực thích ứng của 11 xã phường, kết hợp bảng ma trận phân hạng rủi ro giúp làm nổi bật các điểm nóng ngập lụt nghiêm trọng như khối An Hội (phường Minh An), thôn Phước Thắng (xã Cẩm Kim) và khối An Mỹ (xã Cẩm Châu).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực thích ứng và giảm thiểu tổn thương cho hạ tầng kỹ thuật Hội An trong giai đoạn 2020 - 2030, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nâng cấp và kiên cố hóa mạng lưới giao thông thích ứng ngập lụt: UBND thành phố Hội An cùng Sở Giao thông Vận tải cần triển khai kế hoạch nhựa hóa tối thiểu 80% diện tích đường chính và đường liên khu vực trước năm 2030; nâng tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng dân dụng vượt ngưỡng 13%, bảo đảm mật độ đường đạt từ 6,5 đến 8,0 km/km2. Các tuyến đường xung yếu tại Cẩm Kim, Cẩm Nam cần được tôn cao nền vượt đỉnh lũ lịch sử 3,40 m và xây dựng cầu kiên cố thay thế các bến đò dân sinh.

  2. Mở rộng công suất và bảo vệ an toàn hệ thống cấp nước sạch: Công ty Cấp thoát nước Quảng Nam cần hoàn thành dự án nâng công suất nhà máy nước Hội An lên 21.000 m3/ngày đêm trong giai đoạn 2020 - 2030 nhằm bảo đảm cung cấp nước sạch cho 150.000 dân với định mức 150 lít/người/ngày đêm; đồng thời xây dựng các đài nước dự phòng trên cao và lắp đặt công nghệ xử lý nước bùn cát tự động trong mùa mưa bão.

  3. Tách biệt mạng lưới thoát nước và xây dựng công trình ngăn triều: Ban Quản lý Dự án Đô thị cần lắp đặt hệ thống cửa van ngăn triều một chiều tại tất cả các cửa xả ra sông Hoài và sông Thu Bồn; nâng công suất vận hành trạm xử lý nước thải Cẩm Thanh vượt mức 6.700 m3/ngày đêm và trang bị bổ sung 15 trạm bơm di động công suất lớn tại khu phố cổ.

  4. Cải tạo an toàn mạng lưới cấp điện đô thị: Công ty Điện lực Hội An cần di dời các trạm biến áp mặt đất lên các bệ trụ cao trên 4,0 m tại các vùng trũng thấp; đẩy nhanh tiến độ ngầm hóa cáp điện trung và hạ thế tại các trục giao thông du lịch chính nhằm ngăn chặn 100% sự cố rò rỉ, chập cháy điện trong thiên tai trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà quy hoạch đô thị và kiến trúc sư hạ tầng: Luận văn cung cấp số liệu định lượng về chỉ số thích ứng của 4 phân hệ hạ tầng tại 11 phường xã, làm cơ sở khoa học để xác định cốt xây dựng khống chế và định hướng phát triển không gian đô thị đến năm 2030.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu (Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai tỉnh Quảng Nam): Cung cấp bản đồ ngập lụt chi tiết theo kịch bản nước biển dâng để xây dựng phương án sơ tán dân cư và kế hoạch cứu hộ giao thông tại 3 vùng trọng điểm ngập lụt.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Quản lý Đô thị và GIS: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn IPCC (2012) kết hợp mô hình MIKE và công cụ ArcGIS, có thể áp dụng nhân rộng cho các đô thị ven biển miền Trung trải dài trên 125 km bờ biển.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển (JICA, ADB, Ngân hàng Thế giới): Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về điểm nghẽn hạ tầng tại Hội An, làm căn cứ thẩm định và tài trợ các dự án thích ứng biến đổi khí hậu với nguồn vốn hàng trăm tỷ đồng.

Câu hỏi thường gặp

Hạ tầng kỹ thuật thành phố Hội An chịu tác động nặng nhất từ loại hình thiên tai nào? Thành phố chịu tác động cộng hưởng nghiêm trọng nhất từ các đợt mưa lớn diện rộng kết hợp bão biển và triều cường dâng cao trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Đỉnh lũ lịch sử năm 1964 đạt 3,40 m và năm 2007 đạt 3,28 m đã chứng minh mức độ ngập lụt sâu làm tê liệt trên 60% mạng lưới giao thông toàn đô thị.

Khung phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương trong luận văn có gì nổi bật? Nghiên cứu ứng dụng công thức tích hợp chuẩn của IPCC (2012) với 3 hợp phần gồm mức độ phơi bày, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng. Điểm đột phá là việc kết hợp mô hình toán thủy lực MIKE 11 với công nghệ không gian ArcGIS để tính toán chỉ số chi tiết cho từng hạng mục hạ tầng kỹ thuật trên 11 đơn vị hành chính.

Phường, xã nào tại Hội An có hệ thống hạ tầng dễ bị tổn thương nhất do ngập lụt? Xã Cẩm Kim và phường Minh An là hai địa bàn có chỉ số tổn thương cao nhất. Cẩm Kim có 100% đường sá là bê tông và đường đất dễ hư hại khi ngập sâu trên 1,0 m, trong khi phường Minh An chịu áp lực ngập úng đô thị cổ do hệ thống cống xả bị trào ngược nước sông.

Mục tiêu quy hoạch hạ tầng cấp nước của thành phố Hội An đến năm 2030 được xác định như thế nào? Theo định hướng quy hoạch, công suất nhà máy nước sẽ được nâng từ 6.500 m3/ngày đêm lên 21.000 m3/ngày đêm nhằm đáp ứng nhu cầu cho 150.000 người dân (bao gồm cả khách du lịch) với chỉ tiêu dùng nước sạch tăng từ 80 lên 150 lít/người/ngày đêm.

Làm thế nào để nâng cao năng lực chống chịu ngập lụt cho mạng lưới giao thông Hội An? Cần nâng tỷ lệ nhựa hóa mặt đường từ 62% lên 80%, mở rộng diện tích đất giao thông vượt ngưỡng 13% đất xây dựng dân dụng, đồng thời kết hợp mô hình giao thông vành đai với việc khai thác hiệu quả 9 bến thuyền đường thủy để hỗ trợ vận tải cứu hộ mùa lũ.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương do ngập lụt cho 4 phân hệ hạ tầng kỹ thuật chính tại 11 phường, xã thuộc thành phố Hội An.
  • Ứng dụng hiệu quả mô hình thủy lực MIKE 11 kết hợp công cụ ArcGIS và khung lý thuyết IPCC (2012) để dự báo ngập lụt theo các kịch bản năm 2020, 2050 và 2100.
  • Nhận diện rõ các điểm nghẽn kỹ thuật: tỷ lệ nhựa hóa đường bộ mới đạt 62%, đất giao thông chiếm 12% và hệ thống cống thoát nước chung 48,7 km thường xuyên trào ngược khi lũ vượt mức 2,0 m.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật công trình và phi công trình gắn với mục tiêu nâng công suất cấp nước lên 21.000 m3/ngày đêm và nâng mật độ đường đạt 6,5 - 8,0 km/km2 đến năm 2030.
  • Trong giai đoạn từ năm 2025 đến 2030, chính quyền địa phương và các nhà quản lý đô thị cần tích hợp ngay bộ bản đồ tổn thương vào đồ án quy hoạch phân khu xây dựng, chủ động kiến tạo một đô thị di sản Hội An phát triển bền vững và thích ứng an toàn trước biến đổi khí hậu.