Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu n 3 1. Cơ sở lý luận về môi trường - Khái niệm về môi trường: Theo luật bảo vệ môi trường 2005 của nước CHXHCN Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người ” (Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005)[12]. Theo từ điển tiếng Việt: “ Môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó”.
Còn theo định nghĩa khái quát về môi trường phổ biến trên thế giới thì “ Môi trường của một vật thể, hoặc là một sự kiện tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó” (Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh, 1998)[18]. - Khái niệm về ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi thành phần, tính chất của môi trường. Chất gây ô nhiễm môi trường là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại. Nguồn ô nhiễm từ hoạt động sản xuất công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong số các nguồn ô nhiễm nhân tạo.
Sự phát triển nhiều ngành công nghiệp, nhiều nhà máy có tầm cỡ khác nhau trên toàn cầu đã tạo ra một khối lượng khổng lồ chất thải rắn, lỏng, khí đổ vào môi trường làm cho chất lượng môi trường giảm sút. Đặc biệt là ở nhiều nước đang phát triển và kém phát triển, ở nhiều thành phố, khu công nghiệp của các nước này chất thải không được xử lý hoặc được xử lý kém được thải trực tiếp vào môi trường và làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hoá học trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hoá học trên thế giới Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá.
muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh tăng trọng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp. Trẻ con tuy lúc mới sinh có cơ thể to, nặng cân nhưng nếu sữa mẹ kém chất, nuôi nấng thiếu khoa học thì cũng có thể trở nên còi cọc. Đối với cây trồng, nguồn dinh dưỡng đó chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác. Trong các loại phân thì phân hoá học có chứa nồng độ các chất khoáng cao hơn cả.
Từ ngày có kỹ nghệ phân hoá học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước ta ngày càng được tăng lên rõ rệt. Ví dụ chỉ tính từ năm 1960 đến 1997, năng n 4 suất và sản lượng lúa trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón cho lúa. Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242%. Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới (Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc, 2010)[20].
* Tình hình sản xuất phân bón Năm 2008, sản lượng urê toàn cầu tăng 1,7% so với 2007, trong khi đó sản lượng phân lân và phân kali giảm 7,5% và 2,8% tương ứng do nhu cầu nhập khẩu giảm. Bước sang năm 2009, ngành sản xuất phân bón thế giới đứng trước điều kiện thị trường trì trệ, doanh số yếu, triển vọng sản xuất và thương mại không mấy sáng sủa. Tuy nhiên, những động lực chính cho sự tăng trưởng nhu cầu phân bón vẫn còn nguyên vẹn. Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vẫn chưa được giải quyết.
Dự trữ lương thực thực phẩm và nông sản hàng hóa giảm xuống mức thấp so với nhiều năm. Vì vậy, nhu cầu phân bón sẽ hồi phục, tuy tốc độ hồi phục phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong thời gian 2000 - 2007, ngành sản xuất phân bón thế giới đã tăng tốc độ sản xuất để đáp ứng nhu cầu. Tỷ lệ vận hành công suất đã đạt đến đỉnh cao vào năm 2007 khi các nhà sản xuất vận hành với 97% công suất danh định ở cả ba chất dinh dưỡng chính.
Nhưng sự suy thoái của nhu cầu thị trường từ cuối năm 2008 đã buộc tỷ lệ vận hành công suất trong sản xuất phân bón giảm trở về mức của năm 2000. Trong những năm qua, ngành sản xuất phân bón trên thế giới đã đầu tư nhiều để phát triển các nhà máy mới. Nhưng đầu tư mở rộng công suất phân bón, cả ở những nước có nguồn cung nguyên liệu giá rẻ hoặc có khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính, là rất tốn kém và mạo hiểm do tính chu kỳ của ngành. Về ngắn hạn, ngành sản xuất phân bón toàn cầu sẽ cần phải đầu tư tổng cộng gần 90 tỉ USD để mở rộng công suất hiện nay theo kế hoạch dự kiến đến năm 2013.
Tuy nhiên, tình trạng suy giảm mạnh nhu cầu tiêu thụ trong thời gian 2008/2009, liên kết với những khó khăn về tài chính, đã ảnh hưởng đến triển vọng phát triển các công suất mới. Về ngắn hạn, một số dự án đã bị trì hoãn, khiến cho các nhà máy dự kiến sẽ đi vào vận hành chậm hơn vài năm. Nhưng về n 5 trung hạn, nhiều dự án mới đã được công bố trong 12 tháng qua trên toàn thế giới do những dự báo lạc quan về triển vọng thị trường trong tương lai. * Tình hình sử dụng phân bón hóa học Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân".
Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón, nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định. Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các chủng loại phân khác nhau để bón bổ sung.
Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á. Trong lúc đó Trung Quốc và Nhật lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á. Hà Lan là nước sử dụng phân khoáng nhiều nhất.
Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao. Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: - Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 - Thái Lan: bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 - Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49 Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia. Có thể đó là thị trường xuất khẩu phân bón của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao kiến thức sử dụng phân bón cho họ có kết quả. Dự kiến nhu cầu sử dụng phân bón trên thế giới từ năm 2008 – 2012 được thể hiện ở bảng 2.
Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ phân bón trung bình hàng năm trên thế giới từ năm 2008 - 2012 STT Khu vực N P2O5 K2O 1 Châu Phi 4,5% 3,1% 2,0% 2 Mỹ 1,3% 3,7% 2,3% 3 Bắc Mỹ 0,7% 2,6% 1,0% n 6 4 Châu Mỹ La Tinh 2,5% 4,6% 3,5% 5 Châu Á 3,1% 2,8% 3,8% 6 Tây Á 4,5% 1,5% 2,3% 7 Nam Á 3,3% 4,9% 5,9% 8 Đông Á 2,8% 1,9% 3,2% 9 Châu Âu 0,4% -0.1% 10 Trung Âu 2,6% 1,5% 1,8% 11 Tây Âu -0.3% -1,0% -0,7% 12 Đông Châu Âu và Trung Á 5,7% 6,1% 3,5% 13 Châu Đại Dương 2,0% 1,0% 0,6% 14 Thế giới 2,6% 2,8% 2,7% ( Nguồn : Báo cáo phân bón thế giới xu hướng và triển vọng đến năm 2012)[20] 1. Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón hoá học tại Việt Nam * Tình hình sản xuất phân bón ở Việt Nam Ở Việt Nam, theo số liệu của Vụ Khoa học Công nghệ và chất lượng sản phẩm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), hiện nay có trên 100 doanh nghiệp đầu mối và các thành phần kinh tế tham gia vào mạng lưới phân bón (sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ) và đã đưa ra thị trường tiêu thụ ít nhất 1.420 loại phân bón bao gồm 6 loại chính. Các loại phân bón được sử dụng ở Việt Nam STT Loại Số loại 1 Phân đơn 17 2 NPK 1.084 3 Hữu cơ – Khoáng 79 4 VSV 20 5 Trung lượng – Vi lượng 60 6 Khác 160 (Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2009) Hầu hết các loại phân bón đơn nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp công nghiệp trong nước sản xuất đều đảm bảo đúng chất lượng. Trong khi đó chất lượng các loại phân bón N – P – K, hữu cơ sinh học, hữu cơ khoáng lại đang là vấn đề nổi cộm gây nhức nhối cho người tiêu dùng và trong một chừng mực nào đó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nông nghiệp nói chung và sản xuất kinh doanh nói riêng.
n 7 Về chất lượng phân bón qua các đợt kiểm tra của các chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng cho thấy chất lượng phân bón trên thị trường rất đáng lo ngại. Tình hình phân phức hợp trên thị trường Số mẫu Số mẫu Tỷ lệ Cơ sở kiểm định kiểm tra không đạt không đạt 5 Sở NN & PTNT (Hải Dương, An Giang, 218 86 40% Tiền Giang, Bến Tre, Thái Bình) 9 Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 267 124 56% Bộ NN & PTNT 26 21 80% (Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2009) Ngoài ra ở miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập quán sử dụng phân Bắc, phân chuồng tươi vào canh tác.