CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận khoa học và pháp lý của đề tài 1. Cơ sở lý luận khoa học của đề tài * Cơ sở lý luận về phân tích lợi ích – chi phí mở rộng Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí (Cost benefit analysis) là một công cụ của chính sách, là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra những chính sách hợp lý về sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, phương pháp này được sử dụng rộng rãi để tính hiệu quả đầu tư các dự án qua các thông số như giá trị hiện tại ròng (NPV), hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR) hay tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C).
Phân tích chi phí lợi ích mở rộng cũng là phân tích chi phí lợi ích khi tính thêm chi phí, lợi ích môi trường khi dự án hoạt động. Vì vậy phân tích chi phí lợi ích mở rộng không những cho phép đánh giá hiệu quả đầu tư mang tính kinh tế đơn thuần mà còn cả hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường. [2], [15], [16] * Khái niệm về phân tích chi phí – lợi ích: Phân tích chi phí lợi ích là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định xem đây có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án được đề xuất hay không. Phân tích lợi ích chi phí cũng được dùng để đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau.
Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án. Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra. Cơ bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai. Những dự án mà phân tích CBA xếp vào loại đáng được triển khai là những dự án cho đầu ra có giá trị lớn hơn đầu vào đã sử dụng.
Trong trường hợp phải chọn một dự án trong số nhiều dự án được đề xuất, CBA sẽ giúp chọn được dự án đem lại lợi ích ròng lớn nhất. Cũng có thể dùng CBA để đánh giá mức độ nhạy cảm của các đầu ra trong dự án đối với rủi ro và bất trắc. Cơ sở pháp lý của đề tài Một số văn bản pháp lý có liên quan đến môi trường và chất lượng nước: - Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005; n 6 - Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 21/06/2012; - Luật Đất đai số 13/2003/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003; - Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 17/6/2003; - Luật Hóa chất số 06/2007/QH12 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007; - Quyết định số: 153/2004/QĐ-TTg, Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hanh Định Hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam - Nghị quyết số: 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; - Nghị định số: 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính Phủ về việc: “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường”; - Nghị định số: 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về việc “Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường”; - Nghị định: 29/2011/NĐ-CP ngày 28/4/2011 của Chính phủ quy định đánh giá môi trường chiến lước, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; - Nghị định: 59/2007/NĐ-CP ngày 06/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; - Nghị định số: 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; - Nghị định số: 83/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; - Nghị định số: 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; n 7 - Nghị định số: 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính Phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ Môi trường; - Thông tư liên tịch số: 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/03/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Tổng quan về phương pháp phân tích chi phí – lợi ích 1.
Tổng quan về phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường. Các bước tiếp cận CBA Mục đích sử dụng chủ yếu của CBA là giúp cải thiện việc ra quyết định. Thất bại thị trường đòi hỏi cần có sự can thiệp của chính phủ. Khi áp dụng, CBA sẽ cho biết liệu sự can thiệp này có mang lại hiệu quả hơn không? Lợi ích có lớn hơn chi phí không? Nói cách khác, mục đích của CBA là giúp việc ra quyết định và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Theo Boardman (Cost-Benefit Analysis: Concepts and Practice, Second Edition, Prentice Hall (2001), có thể chia thành 4 loại như sau: (1) Ex-ante BCA: tiến hành trước khi dự án được thực thi Khi bắt đầu hình thành một dự án hay xây dựng chương trình thì lúc đó ta thực hiện CBA, giúp lựa chọn các phương án tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách. (2) In medias res BCA: tiến hành trong suốt thời kỳ thực thi dự án Khi dự án đã đi vào xây dựng một giai đoạn nào đó thì người ta thực hiện CBA. Vì quá trình phân tích này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách và thực thi dự án có cơ sở để điều chỉnh những phương án, quyết định đã đưa ra ban đầu. (3) Ex-post BCA: tiến hành sau khi dự án được thực thi để xem lợi ích mang lại có lớn hơn chi phí không.
Khi dự án đã kết thúc người ta thực hiện CBA và ở giai đoạn này có nhiều thuận lợi do trong quá trình thực hiện dự án mọi chi phí lợi ích đã bộc lộ rõ. (4) Ex-ante/ex-post BCA: dạng kết hợp giữa Ex-ante BCA và ex-post BCA, giúp so sánh giá trị dự án trước và sau khi dự án được tiến hành. Yêu cầu của dự án đầu tư khi áp dụng CBA n 8 Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: - Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá trình nghiên cứu kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật. Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn.
- Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư. - Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước. Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư. - Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư.
Với các dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế. Các bước tiến hành CBA Phân tích chi phí lợi ích có thể được nghĩ đến như một quá trình vận hành trong đó có một số bước nổi bật. Không phải phân tích nào cũng yêu cầu phải thực hiện đầy đủ tất cả các bước đi này. Một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi phải chiết khấu lợi ích trong tương lai.
Một dự án đã triển khai nhiều lần có thể sẽ không gặp phải rủi ro hay bất trắn. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không hay nên chọn triển khai dự án nào giữa các dự án được đề xuất, chúng ta cần bám theo các bước: Làm rõ vẫn đề chỗ đứng/vị thế Xác định những phương án thay thế Đưa ra các giả định Lập danh sách các tác động của môi trường dự án thay thế Quy các giá trị cụ thể n Xử lý các tác động không được 9 Làm rõ vấn đề chỗ đứng/vị thế Khi bắt đầu một phân tích, cần phải chỉ rõ nghiên cứu này là do ai làm, chi phí ai phải chi, lợi ích ai được hưởng. Chúng ta luôn phải làm rõ và nhất quán trong việc giải quyết những vấn đề này cũng như trong việc tính toán lợi ích và chi phí cho những người/nhóm người khác nhau. Xác định những phương án thay thế Một phân tích cần phải nêu rõ được dự án hay các dự án là đối tượng xem xét.
Chúng có loại trừ lẫn nhau hay không. Cần phải đưa được các lựa chọn thay thế tương ứng vào phân tích. Mốc chuẩn để so sánh là lựa chọn không tiến hành dự án. Song đó có thể chỉ là một cơ sở để so sánh.
n 10 Đưa ra các giả định Giả định là một phần thiết yếu của một phân tích. Có thể giả định này tốt hơn giả định kia. Cũng có thể dùng giả định cho hàng loạt các yếu tố số lượng hàng, chi phí, điều kiện thị trường, thời hạn hay các mức lãi sất. Trong một phân tích được tiến hành một cách có trách nhiệm, những giả định này được nêu một cách rõ ràng.
Nếu có thể, chúng sẽ được phân bổ cho những nguồn lực đáng tin cậy. Nếu đưa ra một giá trị giả định thì phải có quy định rõ ràng về giá trị được đưa ra.