Luận văn Thạc sĩ Luật: đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh theo pháp

Nghiên cứu quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh tại Việt Nam, phân tích thực tiễn triển khai ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

73
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh

Hoạt động đăng ký kinh doanh đóng vai trò then chốt trong việc minh bạch hóa thị trường. Tại Việt Nam, hộ kinh doanh cá thể là mô hình kinh tế phổ biến nhờ sự linh hoạt và thủ tục đơn giản. Khung pháp lý hiện hành, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp 2020, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể này gia nhập thị trường. Việc hiểu rõ bản chất pháp lý giúp cá nhân và nhóm gia đình tối ưu hóa quyền lợi. Nội dung nghiên cứu tập trung vào các quy định về quyền tự do kinh doanh. Đồng thời, phân tích sự tương tác giữa chủ thể kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện. Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh cá thể

Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc một nhóm người là công dân Việt Nam làm chủ. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, chủ thể này chỉ được đăng ký tại một địa điểm cố định. Đặc điểm nổi bật nhất là chế độ trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ. Điều này khác biệt hoàn toàn với mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Tài sản kinh doanh và tài sản dân sự của chủ hộ không có sự tách biệt về mặt pháp lý. Hình thức này phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ, lẻ và mang tính chất gia đình truyền thống.

1.2. Vai trò của hộ kinh doanh tại Khu kinh tế Vân Đồn

Trong bối cảnh phát triển Khu kinh tế Vân Đồn, các hộ kinh doanh đóng góp lớn vào GDP địa phương. Mô hình này giúp tận dụng nguồn lực lao động tại chỗ và giải quyết việc làm hiệu quả. Các ngành nghề dịch vụ, du lịch và chế biến thủy sản phát triển mạnh mẽ. Hộ kinh doanh giúp duy trì các sản phẩm truyền thống và đặc sản vùng miền. Đây là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng dịch vụ tại huyện đảo. Sự hiện diện của các hộ kinh doanh tạo nên sự năng động cho thị trường kinh tế Quảng Ninh.

II. Thách thức thực tiễn đăng ký kinh doanh tại huyện Vân Đồn

Thực tiễn tại huyện Vân Đồn cho thấy nhiều rào cản trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế. Các chủ hộ thường gặp khó khăn khi tiếp cận các quy định mới về thủ tục hành chính. Sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan ban ngành gây chậm trễ trong việc cấp phép. Nhiều hộ kinh doanh vẫn hoạt động theo phương thức truyền thống, chưa chú trọng cập nhật pháp luật. Vấn đề hậu kiểm đăng ký kinh doanh còn lỏng lẻo, dẫn đến sai sót trong thông tin kê khai. Ngoài ra, việc giới hạn số lượng lao động và địa điểm kinh doanh cũng kìm hãm khả năng mở rộng quy mô. Những thách thức này đòi hỏi sự thay đổi quyết liệt từ phía chính quyền địa phương.

2.1. Bất cập trong cải cách thủ tục hành chính cấp cơ sở

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cải cách thủ tục hành chính tại Vân Đồn vẫn còn tồn tại hạn chế. Sự phối hợp giữa Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vân Đồn và cơ quan thuế chưa thực sự liên thông. Người dân đôi khi phải đi lại nhiều lần để hoàn tất hồ sơ. Hệ thống dữ liệu điện tử chưa được cập nhật đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia. Điều này gây khó khăn cho việc tra cứu thông tin và quản lý biến động kinh doanh. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đôi khi vẫn còn rườm rà, máy móc.

2.2. Khó khăn về vốn và mã số thuế hộ kinh doanh

Việc cấp mã số thuế hộ kinh doanh gắn liền với quy trình đăng ký nhưng thực tế vẫn còn độ trễ. Các hộ kinh doanh tại Vân Đồn khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức do thiếu tài sản thế chấp. Do không có tư cách pháp nhân, việc huy động vốn từ ngân hàng gặp nhiều rào cản pháp lý. Chế độ kế toán và sổ sách của các hộ kinh doanh thường đơn giản, không đủ tin cậy để thẩm định vay vốn. Điều này khiến nhiều hộ phải dựa vào vốn tự có hoặc vay mượn không chính thức với lãi suất cao.

III. Phương pháp hoàn thiện đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh

Để nâng cao hiệu quả, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp về pháp luật kinh tế. Việc thực thi nghiêm túc Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và hộ kinh doanh là yêu cầu cấp thiết. Cần xây dựng lộ trình số hóa toàn bộ quy trình đăng ký tại địa phương. Các lớp tập huấn về luật cho chủ hộ kinh doanh nên được tổ chức thường xuyên. Việc đơn giản hóa biểu mẫu và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ sẽ kích thích tinh thần khởi nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Đây là hướng đi tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập.

3.1. Áp dụng Nghị định 01 2021 NĐ CP vào thực tiễn địa phương

Nghị định 01/2021/NĐ-CP mang lại khung pháp lý hiện đại cho việc đăng ký hộ kinh doanh. Quy định mới cho phép đăng ký qua mạng, giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp và tiêu cực. Việc liên thông giữa đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế giúp tiết kiệm thời gian cho người dân. Các quy định về tên hộ kinh doanh và ngành nghề cũng được mở rộng, linh hoạt hơn. Chính quyền huyện Vân Đồn cần phổ biến rộng rãi các điểm mới này đến từng xã đảo. Việc thực thi đúng nghị định sẽ tạo bước ngoặt lớn trong quản lý kinh tế địa phương.

3.2. Nâng cao năng lực Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Vân Đồn

Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vân Đồn cần được đầu tư về trang thiết bị và nhân lực. Cán bộ thụ lý hồ sơ phải am hiểu kiến thức về Luật Doanh nghiệp 2020 và kỹ năng công nghệ thông tin. Việc xây dựng thái độ phục vụ chuyên nghiệp, tận tâm là yếu tố then chốt. Cơ quan này cần đóng vai trò là cầu nối hướng dẫn, hỗ trợ hộ kinh doanh thay vì chỉ quản lý thuần túy. Cần thiết lập đường dây nóng để giải đáp thắc mắc về thủ tục hành chính nhanh chóng. Sự chủ động của cơ quan cấp huyện sẽ tạo niềm tin cho cộng đồng kinh doanh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và giải pháp phát triển kinh tế bền vững

Kết quả nghiên cứu thực tiễn tại huyện Vân Đồn chỉ ra rằng sự minh bạch pháp lý thúc đẩy tăng trưởng. Khi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh được cấp nhanh chóng, các hoạt động thương mại diễn ra sôi động hơn. Việc áp dụng thực trạng và giải pháp vào thực tế giúp giảm thiểu các hộ kinh doanh không phép. Công tác hậu kiểm đăng ký kinh doanh giúp nhà nước quản lý tốt các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Sự ổn định về mặt pháp lý giúp các hộ yên tâm đầu tư dài hạn vào cơ sở vật chất. Đây là tiền đề để xây dựng một hệ sinh thái kinh tế đa dạng tại Quảng Ninh. Tương lai của hộ kinh doanh gắn liền với sự phát triển của kinh tế số và thương mại điện tử.

4.1. Tăng cường hậu kiểm và quản lý mã số thuế hộ kinh doanh

Công tác hậu kiểm đăng ký kinh doanh cần được tiến hành thường xuyên và khách quan. Việc này nhằm đảm bảo các hộ kinh doanh tuân thủ đúng ngành nghề đã đăng ký. Đồng thời, quản lý chặt chẽ mã số thuế hộ kinh doanh giúp chống thất thu ngân sách nhà nước. Sự phối hợp liên ngành giữa công an, thuế và quản lý thị trường là rất quan trọng. Hậu kiểm không phải là gây khó dễ mà là để hướng dẫn hộ kinh doanh đi vào nền nếp. Điều này tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng cho tất cả các bên.

4.2. Chiến lược chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tư nhân

Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về thuế và kế toán để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi. Việc trở thành doanh nghiệp giúp chủ thể có tư cách pháp nhân và dễ dàng ký kết hợp đồng lớn. Tại Khu kinh tế Vân Đồn, việc chuyển đổi này giúp các hộ tiếp cận được các gói hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cần xóa bỏ tâm lý ngại thủ tục phức tạp khi vận hành doanh nghiệp. Chính quyền nên cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Đây là bước đệm quan trọng để hình thành các doanh nghiệp mạnh tại địa phương.

V. Kết luận và định hướng tương lai pháp luật hộ kinh doanh

Tổng kết lại, đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh tại Vân Đồn là một quá trình liên tục cải thiện. Pháp luật Việt Nam đang dần hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân. Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn giúp nhận diện rõ các nút thắt cần tháo gỡ. Việc ứng dụng công nghệ và cải cách hành chính là chìa khóa của thành công. Hộ kinh doanh sẽ tiếp tục là trụ cột của kinh tế địa phương nếu được định hướng đúng đắn. Tầm nhìn đến năm 2030, mô hình này sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang hướng chuyên nghiệp và hiện đại hơn. Sự phát triển này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần ổn định an sinh xã hội.

5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế về hộ gia đình

Hệ thống pháp luật kinh tế cần quy định rõ ràng hơn về địa vị pháp lý của hộ kinh doanh. Việc tách biệt tài sản giữa chủ hộ và hộ kinh doanh cần được xem xét để giảm thiểu rủi ro. Các quy định về phá sản hộ kinh doanh cũng cần được bổ sung vào luật. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và cả chủ hộ kinh doanh khi gặp rủi ro. Pháp luật phải thực sự trở thành bệ đỡ cho các sáng kiến kinh doanh nhỏ. Sự minh bạch và dự báo được của luật pháp là yếu tố thu hút đầu tư bền vững.

5.2. Tầm nhìn phát triển hộ kinh doanh trong nền kinh tế số

Trong tương lai, hộ kinh doanh tại Vân Đồn cần thích ứng với môi trường kinh doanh trực tuyến. Việc sử dụng hóa đơn điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt là xu hướng tất yếu. Chính quyền cần hỗ trợ các hộ kinh doanh tham gia vào các sàn thương mại điện tử. Điều này giúp mở rộng thị trường tiêu thụ ra ngoài phạm vi huyện đảo. Công tác quản lý nhà nước cũng phải chuyển dịch sang mô hình quản lý số hóa toàn diện. Sự thay đổi này sẽ tạo ra động lực mới cho sự phát triển của Khu kinh tế Vân Đồn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh theo pháp luật việt nam từ thực tiễn huyện vân đồn tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH 1. Quá trình phát triển của hộ kinh doanh Thuật ngữ “hộ kinh doanh” chính thức được sử dụng tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006. Trong những năm trước đây, hộ kinh doanh được gọi bằng các tên khác nhau như tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa; hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp; hộ kinh doanh cá thể;… và thay đổi theo từng thời kỳ. Trước Đổi mới (trước năm 1986), hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức tổ chức tiểu sản xuất hàng hoá (gồm các thợ thủ công, nông dân cá thể, người làm dịch vụ nhỏ) được kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy môn bài.

Tuy nhiên, do việc thực hiện cải cách xã hội chủ nghĩa và vận động cho một chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế, khu vực kinh tế của sản xuất trong giai đoạn này chỉ có tỷ lệ khá khiêm tốn. Trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay cùng với chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hộ kinh doanh đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện: Thứ nhất, trước khi có Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (năm 1990), hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức hộ cá thể. Hộ cá thể do Uỷ ban nhân dân phường, xã xét cấp đăng ký kinh doanh và hộ tiểu công 7 nghiệp. Hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa hàng,.) có tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ; được thuê mướn lao động theo hợp đồng thoả thuận giữa chủ và người làm thuê; chủ hộ là người lao động trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh; thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm thuê thuộc sở hữu của chủ hộ [37].

Hộ tiểu thủ công nghiệp do Uỷ ban nhân dân quận, huyện xét cấp đăng ký kinh doanh và được chính thức công nhận bằng Nghị định số 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Trong giai đoạn này, do điều kiện lịch sử và bối cảnh kinh tế - xã hội cùng với danh mục cấm kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật rất rộng nên sự phát triển của các hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp còn chậm. Thứ hai, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (năm 1990) đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp 1999, hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức người kinh doanh (gồm các cá nhân, nhóm người kinh doanh dưới vốn pháp định) theo quy định tại Nghị định số 66/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Nghị định này quy định về quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh; về nội dung, trình tự, thủ tục đăng ký, thay đổi, tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh của loại hình này.

Điểm đáng chú ý là, Nghị định này quy định người kinh doanh không bị giới hạn trong việc thuê mướn số lượng lao động [37]. Thứ ba, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005, hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ theo quy định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân quy 8 định không cho phép hộ kinh doanh được thường xuyên thuê lao động không phù hợp với thực tiễn hoạt động của hộ kinh doanh. Vì vậy, để tạo điều kiện cho hộ kinh doanh cá thể phát triển, ngày 02 tháng 04 năm 2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2004/ NĐ-CP về đăng ký kinh doanh; trong đó đã bãi bỏ quy định hộ kinh doanh không được thường xuyên thuê lao động [37].

Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ-CP quy định “hộ kinh doanh cá thể được thuê không quá mười lao động. Hộ kinh doanh cá thể có sử dụng trên mười lao động hoặc có hơn một địa điểm kinh doanh phải chuyển đổi thành doanh nghiệp”. Thứ tư, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 đến nay, với các nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp 2005. Nghị định số 88/2006/NĐ-CP năm 2006, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP năm 2010, Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015, hộ kinh doanh cá thể được đổi tên thành hộ kinh doanh, bổ sung đối tượng một nhóm người làm chủ hộ kinh doanh và sửa đổi quy định việc yêu cầu các hộ kinh doanh sử dụng từ mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.

Bên cạnh việc đổi tên hộ kinh doanh theo từng thời kỳ, nhiều cơ chế, chính sách đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc hình thành và phát triển của hộ kinh doanh. Nhờ đó, thị trường đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hộ kinh doanh. Theo Tổng cục Thống kê, năm 1999 cả nước có hơn 1,5 triệu hộ kinh doanh sử dụng hơn 3 triệu lao động, đến năm 2017, số hộ kinh doanh đã tăng lên trên 5,14 triệu, sử dụng khoảng 8,58 triệu lao động [37]. Như vậy, hộ kinh doanh là giải pháp cần thiết và tất yếu thay thế cho thành phần kinh tế tư bản tư nhân, vì trong rất nhiều năm trước đó, pháp luật không khuyến khích.

Từ năm 2000, đặc biệt là từ năm 2006 và 2014 trở đi, mọi điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp nói chung, doanh 9 nghiệp tư nhân nói riêng đã được xoá bỏ (Các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005 và 2014). Điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty gần như bằng không và không khác gì với việc thành lập hộ kinh doanh. Đặc biệt là việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 và 2014 cho phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân. Do đó, hộ kinh doanh đã thật sự hết lý do, vai trò lịch sử.

Còn sự tồn tại và phát triển như là doanh nghiệp mà không được thừa nhận là doanh nghiệp chỉ là do sự khiếm khuyết của pháp luật. Tuy nhiên, vì các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác vẫn tiếp tục quy định về hộ kinh doanh một cách quá đơn giản, nên đương nhiên đã trở thành sự lựa chọn chủ yếu trên thực tế. Việc một người có nhiều công ty là chuyện bình thường, nhưng một người đồng thời duy trì hai loại hình kinh doanh là công ty và hộ kinh doanh là điều pháp luật cần phải nghiên cứu điều chỉnh. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh 1.

Khái niệm hộ kinh doanh Ở một số quốc gia phát triển trên thế giới chỉ có quy định về hộ kinh doanh do cá nhân làm chủ với nhiều khái niệm khác nhau như doanh nghiệp một chủ (one-man business), thương nhân cá thể (sole trader) hoặc doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship). Để hiểu rõ hơn về khái niệm “hộ kinh doanh”ở Việt Nam, trước hết cần tìm hiểu thêm về thuật ngữ “hộ gia đình”. Hộ gia đình đã được để cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1964. Tuy nhiên, đó chỉ là những khái niệm để giải quyết một số vấn đề chính sách xã hội như khoản 6, Điều 29, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1990), đã quy định về một trong những đối tượng được hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình, đó là “Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ”.

Hộ gia đình được nhắc đến 10 với tư cách là chủ thể của quan hệ dân sự bắt đầu từ Luật Đất đai năm 1993 khi quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể sử dụng đất bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân. Và tiếp tục tại Điều 116 Bộ luật dân sự năm 1995 đã ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ dân sự. Chủ thể hộ gia đình được ghi nhận tại Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này”. Ngoài ra, Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 2013 cũng ghi nhận “tư cách” chủ thể của hộ gia đình trong các quan hệ về quyền sử dụng đất hay sản xuất nông nghiệp.

Điều này có nghĩa rằng Bộ luật Dân sự và một số văn bản khác đã ghi nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một số ngành nghề khác. Trong giai đoạn phát triển của nước ta hiện nay, hộ gia đình đang được coi là đối tượng đầu tư chủ của các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Số lượng giao dịch tài chính, tín dụng giữa các hộ gia đình và ngân hàng, các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng. Do vậy, khi xác định chủ thể thành viên hộ gia đình, Bộ luật dân sự trước kia và một số quy định pháp luật có liên quan luôn coi hộ gia đình là chủ thể đặc biệt, bởi vì, hộ gia đình được hiểu là các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định.

Kinh tế hộ gia đình nhìn chung là sản xuất, buôn bán nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong 11 đó có Việt Nam. Kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại hàng nghìn năm và vẫn sẽ là đơn vị cơ bản trong xã hội và trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động kinh tế hộ gia đình ngày càng đa dạng và phát triển. Để tăng năng suất lao động và mở rộng phạm vi sản xuất ra ngoài hộ gia đình, các hộ gia đình khi đó sẽ thực hiện các thủ tục tham gia vào thị trường kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ