Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Chương 2: Thực trạng đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại tỉnh Lâm Đồng và các giải pháp bảo đảm đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. Quan niệm về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài 1.
Khái niệm kết hôn Kết hôn là một quyền tự nhiên của con ngƣời đƣợc Nhà nƣớc ghi nhận bằng các văn bản quy phạm pháp luật và đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ. Kết hôn giữa nam và nữ là cơ sở để tạo dựng gia đình, góp phần duy trì và thúc đẩy xã hội phát triển. Mỗi cá nhân đều có quyền tự do kết hôn. Từ khi xã hội loài ngƣời có nhà nƣớc, để quản lý xã hội thì mỗi nhà nƣớc đều có pháp luật để điều chỉnh các hành vi của các cá nhân trong xã hội.
Các cá nhân khi thực hiện quyền tự do kết hôn cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật. Mỗi cá nhân trong khi thực hiện quyền kết hôn của bản thân mình thì phải tôn trọng quyền của ngƣời khác, không vì thực hiện quyền kết hôn của mình mà ảnh hƣởng tới quyền của ngƣời khác. Ngƣời thực hiện việc kết hôn không chỉ bảo vệ lợi ích của bản thân mình mà còn phải tôn trọng lợi ích của ngƣời khác. Vì vậy, bản thân ngƣời kết hôn khi kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn.
Trên cơ sở căn cứ vào các quy định của pháp luật, ngƣời kết hôn biết mình đƣợc phép và không đƣợc phép làm gì khi kết hôn. Ví dụ nhƣ nam, nữ muốn kết hôn thì trên cơ sở căn cứ vào các văn bản pháp luật, họ biết rằng mình đã đủ tuổi kết hôn hay chƣa hoặc nếu muốn kết hôn thì ngoài điều kiện về tuổi kết hôn thì mình còn phải đáp ứng các điều kiện nào khác nữa nhƣ điều kiện về sự tự nguyện, phải có năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền cũng căn cứ vào các văn bản pháp luật để có các quyết định để công nhận, bảo vệ quyền kết hôn của cá nhân. Ngoài ra, các cơ quan Nhà nƣớc cũng có các biện pháp xử lý các hành vi vi 7 phạm pháp luật về kết hôn của nam, nữ hoặc của các cá nhân khác nếu vi phạm pháp luật về kết hôn nhƣ tảo hôn, kết hôn giả tạo, kết hôn với ngƣời đang có vợ hoặc chồng, môi giới hôn nhân, ép ngƣời khác kết hôn theo ý của mình… Nhƣ vậy, các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc quy định về kết hôn đã tạo ra chuẩn mực pháp lý để các chủ thể điều chỉnh cho hành vi ứng xử của mình khi tham gia vào quan hệ này.
Theo Từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng: Kết hôn là chính thức lấy nhau làm vợ chồng [36, tr. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng khi thỏa mãn các điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn đƣợc Luật Hôn nhân và gia đình quy định và phải đăng ký việc kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì việc kết hôn đó mới đƣợc công nhận là hợp pháp và giữa các bên nam nữ mới phát sinh quan hệ vợ chồng trƣớc pháp luật [42, tr.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam tập 2 của Nhà xuất bản từ điển Bách khoa: Kết hôn là sự kết hợp hai ngƣời khác giới để lập gia đình, sinh đẻ con cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác của gia đình. Ở Việt Nam, theo tập tục truyền thống, thƣờng có ba lễ chính: lễ dạm, lễ hỏi và lễ cƣới. Ngày nay, có bốn lễ thức cơ bản: dạm ngõ, lễ hỏi, lễ trao nhận giấy chứng nhận kết hôn (đây là một nghi lễ bắt buộc thực hiện) và lễ 8 cƣới. Tùy hoàn cảnh từng địa phƣơng vận dụng thực hiện, theo quy ƣớc về việc cƣới “trang trọng - lành mạnh - tiết kiệm”.
Vì kết hôn là một sự kiện xã hội nên đƣợc luật tục (dƣới xã hội nguyên thủy) và luật pháp (đối với các xã hội đã có văn tự và có nhà nƣớc) quy định rất chặt chẽ. Ai vi phạm sẽ bị xử lí nghiêm khắc. Theo Luật hôn nhân và gia đình 1986 của Việt Nam, nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên mới đƣợc kết hôn. Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, dựa trên cơ sở tình yêu và phải đƣợc Ủy ban nhân dân (xã, phƣờng, thị trấn) nơi thƣờng trú của một trong 2 ngƣời kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do nhà nƣớc quy định.
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nƣớc ngoài do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam công nhận. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lí. Việc kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc Nhà nƣớc Việt Nam quy định trong Pháp lệnh “hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngƣời nƣớc ngoài” ban hành ngày 2. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Kết hôn là việc hai người nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của hai người khác giới tính. Khái niệm và đặc điểm kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài Theo quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, 9 người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Kết hôn là cơ sở để xác lập quan hệ hôn nhân.
Để xác định yếu tố nƣớc ngoài trong quan hệ kết hôn cần dựa vào dấu hiệu xác định yếu tố nƣớc ngoài trong quan hệ hôn nhân. Theo đó, kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng thuộc một trong các trƣờng hợp sau: - Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Trong trƣờng hợp này, kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc xác định qua dấu hiệu quốc tịch của chủ thể - một bên nam, nữ là ngƣời nƣớc ngoài. Quốc tịch là mối liên hệ, ràng buộc pháp lý giữa công dân và nhà nƣớc. Quan hệ này có tính bền vững, ổn định.
Trong mối quan hệ này nhà nƣớc có quyền và nghĩa vụ đối với công dân và ngƣợc lại công dân cũng có quyền và nghĩa vụ đối với nhà nƣớc. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cƣ trú của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam 2014 thì: "Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam". Nhƣ vậy có thể hiểu Ngƣời nƣớc ngoài là ngƣời không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm ngƣời có quốc tịch ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời không quốc tịch. Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì: Quốc tịch nƣớc ngoài là quốc tịch của một nƣớc khác không phải là quốc tịch Việt Nam.
Người không quốc tịch là ngƣời không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nƣớc ngoài [32, Điều 3]. 10 - Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam. Ngƣời nƣớc ngoài đang cƣ trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Họ đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì quan hệ kết hôn của họ là quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trƣờng hợp này, hai bên nam và nữ đều là công dân Việt Nam nhƣng việc kết hôn của họ vẫn đƣợc coi là có yếu tố nƣớc ngoài. Dấu hiệu để xác định yếu tố nƣớc ngoài trong quan hệ kết hôn là nơi cƣ trú. Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và ngƣời gốc Việt Nam cƣ trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài”.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau. Trong trƣờng hợp này, việc kết hôn xảy ra tại nƣớc ngoài, theo pháp luật nƣớc ngoài làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai công dân Việt Nam với nhau. - Kết hôn giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài. Với chính sách ngƣời Việt Nam đƣợc mang hai quốc tịch đó là quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nƣớc ngoài, họ có thể kết hôn với công dân Việt Nam hoặc với ngƣời nƣớc ngoài.
Dấu hiệu để xác định yếu tố nƣớc ngoài trong quan hệ kết hôn là yếu tố quốc tịch. Đặc điểm kết hôn có yếu tố nước ngoài Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là căn cứ để Nhà nƣớc bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời kết hôn. Việc nam, nữ chỉ đƣợc coi là đã kết hôn khi đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.
Sự thừa nhận của nhà nƣớc là một bảo đảm về pháp lý để bảo vệ quyền lợi của ngƣời kết hôn trên cơ sở quy định của pháp luật.