Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở NƢỚC NGOÀI 1. NHÃN HIỆU HÀNG HÓA VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 1. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa Thế giới bước vào nền kinh tế hội nhập kéo theo sự bùng phát không ngừng của các nhãn hiệu sản phẩm và dịch vụ mới. Người tiêu dùng thế giới đang đứng trước cơ hội lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ vô cùng rộng lớn, đa dạng.
Tuy nhiên, thực tế, họ vẫn có thể nhận biết, phân biệt và quyết định tiêu dùng được các sản phẩm, dịch vụ khác nhau chính là nhờ nhãn hiệu của hàng hóa.Vì thế, ngày nay, hầu như không có nhà sản xuất nào lại lãng quên việc tạo ra nhãn hiệu cho bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào của họ trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt giữa hàng triệu những nhà sản xuất lớn nhỏ trên toàn cầu với sự bùng nổ của vô vàn các loại hàng hóa cùng tính năng. Vậy, nhãn hiệu hàng hóa là gì? Theo Hiệp định TRIPs, nhãn hiệu hàng hóa là: Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố minh họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa. Trường hợp dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan, các thành viên có thể quy định khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính 5 z phân biệt thông qua việc sử dụng.
Các thành viên có thể yêu cầu như một điều kiện để được đăng ký là dấu hiệu phải nhận thức được [11]. Theo Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa cũng không có nhiều điểm khác biệt: Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa [10]. Như vậy, theo các quy định quốc tế, nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác. Luật pháp Việt Nam quy định về nhãn hiệu hàng hóa có những điểm cụ thể và thu hẹp hơn so với các hiệp định quốc tế.
Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau [21]. Như vậy, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa tại Luật Sở hữu trí tuệ được định nghĩa theo tiêu chí chức năng của nhãn hiệu. Chúng ta có thể thấy chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở khác nhau, do đó, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa phải làm cho người tiêu dùng dễ nhận biết, phân biệt được đó là hàng hóa, dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh nào. Vì vậy, các dấu hiệu này phải độc đáo, không giống với bất cứ dấu hiệu nào của các cơ sở kinh doanh khác.
Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hàng hóa Theo xu hướng quốc tế hiện nay thì các dấu hiệu có thể được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa rất phong phú, nó có thể cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc là sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, 6 z dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của cơ sở sản xuất kinh doanh khác. Trên tinh thần của các Điều ước quốc tế, có thể phân loại một số dấu hiệu hiện nay được dùng làm nhãn hiệu hàng hóa như sau: Dấu hiệu từ ngữ Từ ngữ là dấu hiệu được dùng phổ biến nhất và chiếm số lượng lớn trong thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Loại dấu hiệu này bao gồm: - Nhãn hiệu là tên người: May Hồng Ngọc, Bông Bạch Tuyết. - Nhãn hiệu là tên địa danh: Bia Hà Nội, Xi Măng Bỉm Sơn.
- Nhãn hiệu là tên sự vật: Bánh Kinh Đô, Diêm Thống Nhất - Nhãn hiệu là tên tự đặt: Sony, Omo. - Nhãn hiệu là tên ghép: VINATABA, VINAMILK. Dấu hiệu là chữ cái và con số Dấu hiệu này bao gồm một hoặc nhiều chữ cái, một hoặc nhiều chữ số hoặc kết hợp cả hai. Ở Việt Nam, không phải mọi chữ cái và con số đều được thừa nhận là nhãn hiệu hàng hóa.
Các chữ cái đơn lẻ và không được cách điệu thì thường được coi là không có khả năng phân biệt và do vậy không được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các chữ số, chữ cái thuộc các ngôn ngữ không thông dụng bị loại trừ. Tuy nhiên, các dấu hiệu này được bảo hộ với điều kiện đã được sử dụng và được thừa nhận rộng rãi hoặc phải được thể hiện dưới hình thức hình họa sáng tạo chứ không phải đơn thuần là các chữ in. Ví dụ: "333", "IBM" hay chữ "M" được trình bày cách điệu của McDonald.
Dấu hiệu là hình vẽ Dấu hiệu này bao gồm các hình họa, các nét vẽ, biểu tượng hoặc hình họa hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì. Pháp luật của nhiều nước trong đó có Việt Nam không chấp nhận cho đăng ký các hình và hình học đơn giản như 7 z hình chữ, hình vuông, hình tròn.vì chúng bị coi là không có khả năng phân biệt (Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Dấu hiệu là sự kết hợp các dấu hiệu từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ với nhau. Loại dấu hiệu này được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam cũng như ở các nước khác Dấu hiệu là các biểu tượng: bao gồm những biểu tượng vui, những hình vẽ.
như biểu tượng "bò cười" sử dụng cho sản phẩm phomat. Dấu hiệu tổ hợp màu sắc: Bao gồm các từ ngữ, hình ảnh và bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng có màu sắc hoặc sự kết hợp màu sắc với các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc. Việc sử dụng các chữ cái, hình họa với màu sắc thường làm tăng thêm tính phân biệt của chúng và thường dễ dàng được chấp nhận đăng ký hơn. Hiệp định TRIPS và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đều quy định tổ hợp màu sắc là một loại dấu hiệu có thể đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa.
Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 lại không thừa nhận dấu hiệu màu sắc có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa mà chỉ xác định màu sắc là phương thức thể hiện của các loại dấu hiệu khác. Vì vậy, trong thời gian tới, pháp luật Việt Nam cần có sự bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hơn đối với việc cho phép tổ hợp màu sắc được đăng ký bảo hộ làm nhãn hiệu hàng hóa. Trên đây là những dấu hiệu được sử dụng rộng rãi nhất trong các nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều quốc gia nhất là những quốc gia phát triển, những dấu hiệu mà con người có khả năng tri giác được đều có thể sử dụng như là một nhãn hiệu hàng hóa.
Vì vậy, bên cạnh những dấu hiệu nhìn thấy được như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, sự kết hợp của các yếu tố này thì những dấu hiệu nghe thấy được, ngửi thấy được như âm thanh, mùi vị cũng đã được một số quốc gia bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa. Hiện nay, các nhà sản xuất luôn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo và hấp dẫn cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình để tạo ấn tượng đến 8 z công chúng và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra thì việc công nhận, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các quốc gia khác là một xu thế tất yếu của thời đại. Do vậy, theo chúng tôi thì pháp luật Việt Nam nên có quy định để bảo hộ cho các loại dấu hiệu này nếu việc bảo hộ đó không trái với quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác. Các điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Nhãn hiệu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Việc lựa chọn sản phẩm thích hợp của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi uy tín của nhãn hiệu hàng hóa đồng thời là uy tín của doanh nghiệp đó. Do vậy, hầu hết mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu hàng hóa để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của người khác. Tuy nhiên, không phải tất cả những nhãn hiệu đăng ký đều được pháp luật bảo hộ. Mà một nhãn hiệu chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó đáp ứng các quy định của pháp luật.
Luật Sở hữu trí tuệ quy định để đăng ký và bảo hộ như một nhãn hiệu hàng hóa thì nhãn hiệu đó phải đáp ứng một số điều kiện sau: 1. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ Theo quy định tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: - Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; - Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Như vậy, nếu như khái niệm nhãn hiệu tại Điều 4 mang tính mở thì tại Điều này đã giới hạn phạm vi các dấu hiệu có thể được bảo hộ. Điều kiện về tính phân biệt Tính phân biệt là yêu cầu trước tiên cần phải có nếu một nhãn hiệu hàng hóa muốn được đăng ký bảo hộ vì để thực hiện chức năng cơ bản là phân biệt sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất này với sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất khác thì nhãn hiệu hàng hóa phải có khả năng phân biệt.