Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG Chương 2. THUC TRANG HOAT ĐÔNG BẢO VỆ QUYỀN VA LỢI ÍCH HOP PHÁP CUA NHÀ ĐẦU TƯ TREN THỊ TRƯỜNG CHUNG KHOAN VIỆT NAM Chương 3. GIẢI PHÁP NHAM TANG CƯỜNG BẢO VỀ QUYỀN LỢI CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÔ PHIẾU TREN THỊ TRƯỜNG CHUNG KHOAN VN Kết luận Tài liệu tham khao 9 Chương | MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIÊM QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niềm ve “quyen và lợi ích hợp pháp của các nhà dau tư trên thị trường chứng khoán tập trung” 1.1 Khái quát về “giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán tap trung” Khái niệm "thị trường” là để chỉ một không gian giao dịch hay một hệ thong giao dịch.
theo đó nó làm “ha tang” cho việc mua bán chứng khoán. Việc mua bán chứng khoán có thể được diễn ra trên hai loại thị trường: (i) thị trường giao dịch tập trung và (11) thị trường phi tập trung. Giao dich tập trung dưới đây được hiểu là: Theo qui định tại Chương IV, Nghị định 144/2003/NĐ - CP ngày 28 thang II nam 2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, chương qui định về giao dịch chứng khoán, nhưng không có điều khoản cụ thể định nghĩa về giao dịch chứng khoán, về tỉnh thần của các điều luật chúng ta có thể hiểu giao dịch chứng khoán là việc mua bán chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán. Luật chứng khoán thông qua ngày 29 tháng 6 nam 2006 và có hiệu lực ngày | thang | nam 2007 qui định Giao dich chứng khoán tại Điều 41 cũng không có định nghĩa cụ thể mà chỉ qui định về Giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán tô chức giao dịch chứng khoán niêm yết theo phương thức khớp lệnh tập trung và phương thức giao dịch khác theo quy định tại Quy chế giao dịch chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán. Chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán không được giao dịch bên ngoài Sở giao dịch chứng khoán trừ những trường hợp ngoại lệ theo Quy chế giao dịch chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán to chức giao dịch chứng khoán niêm yết theo phương thức thoa thuận và các phương thức giao dịch khác qui định 10 theo quy định tại Quy chế giao dịch chứng khoán của trung tâm giao dich chứng khoán Chứng khoán niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán được giao dich tại công ty chứng khoán là thành viên giao dịch của trung tâm giao dịch chứng khoán theo Quy chế giao dịch chứng khoán của trung tâm giao dịch chứng khoán. ThịL trường # chứng g khoán tậpAp trung g có nghĩa g là ggiao dịch chứng g khoán trên sàn giao dich, tại So giao dich chứng khoán hoặc Trung tam giao dich chứng khoán.2 Khái quát về “nhà đầu tu” Nhà đầu tư chứng khoán được hiểu là người bỏ tiền ra mua chứng khoán, họ đầu tư nhằm mục đích thu lời trong tương lai, mục đích của họ là thu lợi nhuận hoặc hạn chế rủi ro tốn thất tài chính.
Tại Nghị định 144/2003 không có định nghĩa cụ thể về người đầu tư, chỉ qui định quyền và nghĩa vụ của người đầu tư tại Điêu 90. Tuy nhiên, theo Khoản 10 Điều 6 Luật chứng khoán thông qua ngày 29 tháng 6 nam 2006 và có hiệu lực ngày | tháng | năm 2007 đã có qui định về nhà đầu tư như sau: “Nhà dau tw là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhan nước ngoài tham gia dau tư trên thị trường chứng khoán `. Có thể nói nhà đầu tư chứng khoán là chủ thể trung tâm của thị trường, chủ thé chính của thị trường vì nếu không có nhà đầu tư chứng khoán thì không thê có thị trường chứng khoán. Sở dĩ có thể nói như vậy bởi vì đối với bất kỳ loại hình thị trường nào thì hai lực lượng cung và cầu hàng hoá của thị trường đó là hai lực lượng thiết yếu tạo nên một thị trường.
Một thị trường không thể tồn tại nếu thiếu một trong hai chủ thể cung hoặc cầu hàng hoá. Nhưng đối với thị trường chứng khoán, thì lực lượng cầu hàng hoá - tức là 1] người dau tư chứng khoán hay người mua chứng khoán. còn đóng vai trò quan trong hơn chủ thể câu hàng hoá trên thị trường khác do chứng khoán là loại hang oe hoá đạc F biệt t hơn các loại 2 hàng hoá thông thường khác. Hiện có nhiều quan niệm và cách phân biệt khác nhau về người đầu tư chứng khoán cũng như có nhiều cách phân loại nhà đầu tư chứng khoán.
can cứ vào các tiêu chí và mục đích khác nhau: - Căn cứ theo mục đích đầu tư: Nha dau tu dài hạn: Là những nhà đầu tư thực hiện mua cố phiếu, trái phiếu với ý định năm giữ chúng trong một thời gian tương đối dài để hưởng lãi hoặc cô tức do doanh nghiệp tra. Nhà dau tư ngăn hạn: là những nhà đầu tư mua vào cô phiếu, trái phiếu năm giữ trong một thời gian ngăn và hy vọng bán lại với mức cao hơn để hưởng chênh lệch. theo cách phân loại này có người còn gọi nhà đầu tư ngăn hạn là nhà đầu cơ chứng khoán. Đầu cơ là hành vi có tính toán của những người đầu tư chấp nhận rủi ro, họ có thể mua cổ phiếu với số lượng lớn và bán lại trong một thời gian ngăn nhằm thu được một khoản chênh lệch giá nhat định.
- Can cứ vào quy chế pháp lý của nhà dau tư tham gia vào hoạt động giao dich chứng khoán: Nhà dau tư cá nhân: là những cá nhân có day đủ nang lực hành vi dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mua bán chứng khoán của chính mình. có kha nang tài chính hoạc có đủ số chứng khoán đảm bao thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Nhà dau tư to chức: là các tổ chức có tư cách pháp nhân thực hiện việc mua bán chứng khoán như một phan hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên có thể phân loại nhà đầu tư tô chức theo mức độ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.
Nhà đầu tư to chức chuyên nghiệp bao gom các định chê tài chính trung gian, các ngân hàng thương mại công ty chứng khoán. quỹ đầu tư chứng khoán.thực hiện việc mua bán chứng khoán một cách chuyên nghiệp. là một trong những lĩnh vực hoạt động chính của mình. Nhà đầu tư tô chức không chuyên nghiệp là các doanh nghiệp thực hiện việc mua bán chứng khoán không thường xuyên và không chuyên nghiệp với mục đích tạo thêm nguồn thu nhập bố sung cho mình.
- Can cứ theo nguồn øốc quốc tịch của nhà dau tư: Nha dau tư trong nước: là các tổ chức được thành lap theo pháp luật Việt Nam và các cá nhân mang quốc tịch Việt Nam. Nhà dau tư nước ngoài: là các tô chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài và các cá nhân mang quốc tịch nước ngoài thực hiện việc mua ban chứng khoán trên TTCK Việt Nam Đối với môi loại nhà đầu tư, do có những đặc thù khác nhau, dan đến có lợi ích, kha nang bị xâm hai lợi ích, khả nang tự bảo vệ. cũng sẽ khác nhau, nên thường có cách thức bảo vệ riêng do các đặc thù riêng của từng loại. Chang han như đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, nhà dau cơ, nha đầu tư có tố chức thì mức độ bảo vệ ít hơn so với các nhà đầu tư không chuyên nghiệp hay cá nhân vì họ hiểu biết và có khả năng chuyên nghiệp hơn trong việc tự bảo vệ lợi ích của mình, hay đối với nhà đầu tư trái phiếu (chứng khoán nợ) mức rủi ro ít hơn nên cách thức bảo vệ có khác so với các nhà đầu tư co phiếu (chứng khoán vốn).
Việc bảo vệ người dau tư trái phiếu - còn được gol là “bao vệ chủ nợ”- có những nội dung và hình thức khác rất nhiều so với bao vệ người đầu tư cô phiếu — còn gọi là “bao vệ cô dong”. 13 Trong để tài nghiên cứu này, tôi chu yếu tập trung vào những nội dung liên quan đến việc bao vệ quyền lợi của người dau tư co phiêu (bao vệ cô dong), đặc biệt là người dau tư cá nhân, cô dong nhỏ | là những người đầu tư với quy mô nho và co phiếu của một công ty, họ là những người ít hiệu biết về rủi ro thị trường. kha nang và điều kiện năm bat thông tin hạn chế nên khong lường hết những rủi ro thị trường, hay là những người không được trực tiếp quản lý tài sản đầu tư của mình. Trên thị trường chứng khoán, lực lượng tham gia của chủ thé đầu tư, đặc biệt là các cô đông nhỏ ngày càng trở nên đông dao.3 Nhân dién hành vi có thé xâm hai đến quyền và loi ích hop pháp cua nha dau tu trên thị trường chứng khoán - Lợi ích cố đông bi xám hai từ phía các cong ty phát hành cổ phiêu Khi người đầu tư mua cô phiếu của một công ty, anh ta là cố đông của công ty phát hành co phiếu đó, hay là đồng chủ sở hữu của công ty cùng với các cố đông khác, vì vậy anh ta phải có được các quyền làm chủ sở hữu một cách trực tiếp hoạc gián tiếp.
Với các tố chức thông thường của một công ty co phần hiện nay. có rất nhiều cách thức, mà nếu không được lưu ý thì các quyền và lợi ích cua những cố đông đạc biệt là cổ đông nhỏ. không chuyên nghiệp sẽ bị xâm hại. Đây là nhóm lợi ích lớn, quan trọng nhất và dé bị xâm phạm nhất.
Để tìm được cách bảo vệ, cần phải hiểu rõ những cách thức xâm hai lợi ích liên quan đến công ty phát hành, cổ đông lớn và ban quan lý công Ly. - Vấn đề “cổ dong lon” và “cổ đóng nhỏ” Các nhà đầu tư nam giữa một khối lượng lớn cõ phiếu (cố đông lớn). hay những người được lựa chon dé quan ly công ty, thường nam thông tin va kiểm soát công ty, có rat nhiều lợi thế có thé thao túng tình hình hoạt đông 14 của công ty. Ngược lại.
những người đầu tư nam giữ một lượng thiểu số cô phiếu (cô dong nhỏ). không nam trong số những người kiểm soát công ty là người dé bị các có dong lớn thao túng, không có nhiều quyền lợi. - Mat lợi thể thong tin của những cổ đông nhỏ Một trong những van dé quan trọng nhất đối với bảo vệ nhà đầu tư.