PHẦN MỞ ĐẦU LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Thị trường chứng khoán là kết quả đỉnh điểm của thị trường hàng hóa, có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nhà đầu tư và sự quan tâm của cơ quan chức năng. Chỉ số giá chứng khoán, chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường, và cũng được xem là thước đo phản ánh mọi biến động của một quốc gia từ kinh tế đến chính trị, nói cách khác nó là phong vũ biểu của một quốc gia. Nói như vậy, cũng có nghĩa các yếu tố vĩ mô thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán? Có rất nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài về vấn đề này. Dựa trên cơ sở của những nghiên cứu trước, luận văn tìm hiểu mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu đại diện cho công cụ vĩ mô là lãi suất huy động tiền gửi và chỉ số giá tiêu dùng CPI tác động như thế nào đến chỉ số giá chứng khoán sàn Thành phố Hồ Chí Minh (VN-Index).
Điểm mới của luận văn là phân tích sâu đặc điểm ở từng giai đoạn để thấy rõ các mối quan hệ này trong quá trình phát triển của thị trƣờng. Kết luận về mối quan hệ này là cơ sở để luận văn đề xuất một số giải pháp liên quan đến chính sách tiền tệ, và những gợi ý chính sách giúp thị trƣờng chứng khoán Việt Nam phát triển ổn định trong thời gian tới. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu sẽ góp một phần nhỏ trong bức tranh chung về nghiên cứu thực nghiệm cho thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Luận văn là bài nghiên cứu thực tế về lĩnh vực tác giả rất quan tâm, giúp tác giả có thêm những trải nghiệm mới về nghiên cứu khoa học trước khi hoàn thành chương trình thạc sĩ.
Đây cũng chính là lí do tác giả chọn thực hiện đề tài này. 123doc MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Mục đích của luận văn là phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số giá chứng khoán Việt Nam, thông qua phân tích chuỗi dữ liệu thời gian. Hai nhân tố đại diện môi trường vĩ mô là: Lãi suất huy động tiền gửi và chỉ số giá tiêu dùng - CPI , chỉ số VN-Index được sử dụng làm đại diện cho chỉ số giá chứng khoán của TTCK Việt Nam. Kiểm tra mối quan hệ và chiều hướng tác động của từng biến đến sự thay đổi VN-Index qua ba giai đoạn.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp nhằm mục tiêu: Ổn định thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU: Tác giả tập trung nghiên cứu ba nhóm đối tượng để xem xét mối quan hệ của các yếu tố môi trường vĩ mô tác động đến chỉ số giá chứng khoán của TTCK Việt Nam. Thứ nhất là, chỉ số giá tiêu dùng - CPI, được công bố công khai bởi Tổng cục thống kê trên website: http://www.vn và có nguồn chính thức từ IMF - Đây là một trong những nhân tố then chốt, phản ánh biến động nền kinh tế, đồng thời có số liệu chính tức từ cơ quan chức năng. Thứ hai là, lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng, vì khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, thì lãi suất huy động là một kênh đầu tư an toàn khác mà nhà đầu tư có thể đánh đổi.
Thứ ba là, chỉ số giá chứng khoán VN-Index của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, đây là thị trường tập trung có quy mô và trình độ phát triển nhất tại Việt Nam. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Căn cứ từ các kết quả nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung phân tích hai yếu tố: Chỉ số giá tiêu dùng - CPI và lãi suất huy động của ngân 123doc hàng tác động đến chỉ số giá VN-Index của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn từ tháng 07/2000 đến tháng 12/2012. Phạm vi không gian là giới hạn tại sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM, phạm vi thời gian là 12 năm, từ khi thị trường bắt đầu hoạt động. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phần mềm sử dụng phân tích: Excel 2010 và Eview 6.
Phƣơng pháp phân tích định lƣợng: Kiểm định tính dừng dữ liệu bằng kiểm định Unit Root Test. Phân tích mối quan hệ nhân quả bằng phân tích đồng kết hợp của Engle & Granger, 1987. Kiểm định đồng liên kết – Johansen. Chạy mô hình hồi quy Vec-to và kiểm tra sự phù hợp của mô hình bằng kiểm định tính dừng của chuỗi phần dư thu được từ mô hình.
Nguồn số liệu: Chỉ số đóng cửa VN-Index được lấy từ website http://www.vn thuộc Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lãi suất huy động tiền gửi được lấy từ website của Tồng cục thống kê: http://www.vn và Quỹ tiền tệ quốc tế- IMF: http://www. Cách chọn biến: Thời gian thu thập số liệu từ tháng 07/2000 đến tháng 07/2012. Vì chỉ số CPI được công bố định kỳ hằng tháng nên tác giả luận văn chọn số liệu theo tháng của các chỉ tiêu.
Chỉ số VN-Index sẽ được lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch cuối cùng trong tháng làm chỉ số cho tháng đó. Lãi suất huy động theo nguồn IMF cũng sẽ lấy lãi suất tính theo năm, được 123doc công bố hằng tháng. Căn cứ vào cách chọn mẫu trên, ta sẽ có 145 bộ quan sát dùng cho phân tích. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN: Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: CHƢƠNG I - LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ VỚI THỊ TRƯỜNG KHOÁN CHỨNG KHOÁN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY.
CHƢƠNG II: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI) VÀ LÃI SUẤT HUY ĐỘNG (INTEREST) ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN-INDEX GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 07/2000 ĐẾN THÁNG 12/2012. CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẰM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 123doc 1 CHƢƠNG I – LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ VỚI THỊ TRƢỜNG KHOÁN CHỨNG KHOÁN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY.1 LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ VỚI THỊ TRƢỜNG KHOÁN CHỨNG KHOÁN.1 Khái niệm Thị trƣờng chứng khoán. “Thị trường chứng khoán (Securities market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh- hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu chứng quyền”. Theo định nghĩa đơn giản khác: Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. TTCK tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung. Mặt khác, TTCK là một thị trường cao cấp, tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau, các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn. Đặc tính đó khiến TTCK cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lời không chính đáng thông 123doc 2 qua các hoạt động gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư (NĐT), tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế.2 Lý luận về mối quan hệ các biến kinh tế vĩ mô với thị trƣờng khoán chứng khoán.
Cung tiền là khái niệm dùng để chỉ lượng tiền tệ cung cấp cho nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản. Có một số định nghĩa liên quan đến cung tiền: Tiền cơ sở (Money base – MB): Tổng lượng tiền mặt do ngân hàng trung ương (NHTW) phát hành bao gồm tiền đang được lưu thông và tiền dự trữ (MB = C+R). Cung tiền: Tổng lượng tiền trong lưu thông và tiền gửi (M = C + D), còn được gọi là cung tiền danh nghĩa. Cung tiền do ngân hàng trung ương kiểm soát.
Ngân hàng trung ương kiểm soát cơ sở tiền (MB), và qua đó kiểm soát cung tiền M (Money supply). Khi cần điều tiết vĩ mô, ngân hàng trung ương (NHTW) có thể điều chỉnh cung tiền bằng ba cách chính : i) In thêm tiền, ii)Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại, iii) Mua bán giấy tờ có giá qua nghiệp vụ trường mở.Bên cạnh đó, một đặc trưng riêng biệt của ngành là các ngân hàng và tổ chức trung gian tài chính cũng có khả năng “tạo ra tiền”, thông qua hoạt động vay và cho vay. Việc tạo ra tiền này được diễn ra theo cấp số nhân. Nhờ đó tiền có tính thanh khoản cao hơn, và phục vụ nhu cầu lưu trữ, sử dụng vốn trong nền kinh tế.
123doc 3 Với vai trò là một công cụ hiệu quả để điều tiết vĩ mô, cung tiền và thị trường chứng khoán có mối quan hệ rất gần, khi cả hai cùng phản ánh tình trạng nền kinh tế đang trãi qua. Khi kinh tế chạm đáy suy thoái, cần một động lực để phục hồi, NHTW thường nới rộng cung tiền và chắc chắn lãi suất sẽ hạ với một độ trễ nhất định. Lãi suất giảm làm chi phí đầu tư rẻ hơn, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay để thực hiện dự án kinh doanh, mang lại những lợi nhuận kì vọng cho các nhà đầu tư vào công ty đó, những kỳ vọng này giúp giá cổ phiếu công ty tăng. Nếu các mã cổ phiếu trên sàn đều nhạy, thì sự tăng lên của cung tiền đều phản ánh một kì vọng về sự tăng giá cổ phiếu, và TTCK sẽ tăng điểm.
Ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng nóng cần hạ nhiệt, NHTW thường thắt chặt cung tiền, dự báo cho một thời kì khó khăn trong tiếp cận vốn vay ngân hàng, cùng với triển vọng không khả quan về nền kinh tế thì TTCK sẽ phán ánh ngay thông qua giá cổ phiếu có sự điều chỉnh đi xuống.Tuy nhiên, khi phát ra tín hiệu cung tiền giảm thì thị trường chứng khoán sẽ phản ứng nhanh hơn so với xu thế cung tiền tăng.Nói cách khác, khi cung tiền tăng thì thị trường chứng khoán tăng với tốc độ chậm hơn so với tốc độ giảm của thị trường khi có thông tin cung tiền thắt chặt.Vì các nhà đầu tư luôn tránh xa các rủi ro và thận trọng với lợi nhuận. Lạm phát là việc giá cả các hàng hóa tăng lên so với mức giá thời điểm trước.