CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CỔ TỨC VÀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1. CÔNG TY CỔ PHẦN, LỢI NHUẬN VÀ CỔ TỨC CỦA CÔNG TY 1. Công ty cổ phần và lợi nhuận của công ty 1. Khái quát về công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp.
Trong đó, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu hợp pháp ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần là cổ đông của công ty. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân. Thông thường, luật pháp của các nước đều quy định số cổ đông tối thiểu, một số nước còn quy định số vốn pháp định tối thiểu.
Cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp hạn chế chuyển nhượng. Sự ra đời của công ty cổ phần bắt nguồn từ chính nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế – xã hội cần có sự liên kết hùn vốn, đồng thời về mặt chủ quan, xuất phát từ sự mong muốn của các nhà đầu tư muốn chia sẻ những gánh nặng rủi ro trong kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn. CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874). Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức… Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, CTCP bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm… ở các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới [42].
Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng 18 kinh tế – xã hội. Công ty cổ phần là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn. Sự ra đời của công ty cổ phần đã giúp cho các nhà doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo. Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội hóa cao.
Công ty cổ phần có những ưu điểm chủ yếu sau: - Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro của các cổ đông là không cao; - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy động vốn. Đây là đặc điểm riêng có và cũng là ưu thế của công ty cổ phần, nó cho phép công ty có thể huy động một khối lượng vốn lớn cho hoạt động kinh doanh của công ty; - Cổ đông có thể dễ dàng và tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác thông qua việc nhượng bán cổ phiếu trên thị trường (trừ trường hợp hạn chế chuyển nhượng). Đây là đặc điểm quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của công ty cổ phần. Chính đặc điểm này đã thu hút các nhà đầu tư vì với cổ phần được tự do chuyển nhượng, nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển dịch đầu tư khi họ muốn; - Cơ cấu vốn của Công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện cho nhiều người cùng góp vốn vào công ty; - Trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý.
Việc tách bạch giữa sở hữu và quản lý như vậy vừa thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp giỏi được công ty thuê làm công tác quản lý, thực hiện mục tiêu của công ty, đồng thời đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sở hữu của cổ đông không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty. Bên cạnh những ưu điểm, công ty cổ phần cũng có những nhược điểm hay hạn chế chủ yếu sau: - Việc quản lý và điều hành Công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông thường rất lớn, có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích; 19 - Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt là về chế độ tài chính, kế toán; - Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải thực hiện công khai và báo cáo với các cổ đông. Lợi nhuận của công ty cổ phần Cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, công ty cổ phần thực hiện kinh doanh tức là thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Sau một quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thu được một khoản lợi nhuận nhất định.
Đây là kết quả tổng hòa các giải pháp kinh tế, kỹ thuật của công ty. Lợi nhuận biểu hiện là kết quả tài chính của hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ. Xem xét từ góc độ của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu hay thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đạt được số doanh thu hay thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định. Xem xét từ góc độ của doanh nghiệp, lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà công ty đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó trong một thời kỳ nhất định.
Lợi nhuận = Doanh thu hay thu nhập – Chi phí tạo ra doanh thu hay thu nhập Lợi nhuận của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng: - Lợi nhuận là một trong những tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi lẽ, một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận, nếu một doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục, kéo dài thì doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản. - Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trưởng bền vững… - Lợi nhuận là nguồn tài chính để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động trong doanh nghiệp. 20 - Lợi nhuận của doanh nghiệp cũng là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.
- Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả của các quyết định đầu tư và các quyết định quản lý hoạt động kinh doanh thường xuyên cuối cùng được thể hiện ở số lợi nhuận thu được. Thông qua chỉ tiêu lợi nhuận giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cổ tức của công ty cổ phần 1.
Khái niệm về cổ tức Từ lợi nhuận đạt được, công ty phải trích nộp một phần là thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà nước. Phần lợi nhuận còn lại là lợi nhuận sau thuế. Về cơ bản, lợi nhuận sau thuế của công ty cổ phần được chia làm hai phần: - Một phần được giữ lại nhằm mục đích sử dụng để tái đầu tư đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng của công ty trong hoạt động kinh doanh. Bộ phận lợi nhuận này được gọi là lợi nhuận giữ lại tái đầu tư; - Một phần dành để chia cho cổ đông hiện hữu của công ty và được gọi là lợi tức cổ phần hay cổ tức cho cổ đông.
Như vậy, có thể thấy: Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành trả cho các cổ đông hiện hữu của công ty. Xét về mặt pháp lý, ở các nước đều không có quy định nào bắt buộc các công ty cổ phần phải trả cổ tức cho các cổ đông; tuy nhiên, hầu hết các công ty kinh doanh có lợi nhuận đều thực hiện trả cổ tức cho các cổ đông. Từ khái niệm về cổ tức nêu trên có thể rút ra một số điều sau: - Thông thường nói đến cổ tức (hay chính sách cổ tức) của một công ty cổ phần là chủ yếu đề cập đến cổ tức mà công ty dành trả cho cổ đông phổ thông hay cổ đông thường của công ty. - Nguồn gốc của cổ tức mà công ty trả cho cổ đông hiện hữu là một phần lợi nhuận sau thuế của công ty bao hàm lợi nhuận sau thuế trong năm hiện hành hay trong kỳ của công ty và bộ phận lợi nhuận chưa phân phối lũy kế đến cuối kỳ trước.
Như vậy, cổ tức không chỉ là lấy từ lợi nhuận sau thuế trong năm của công ty. Đây 21 là quy định của luật pháp ở hầu hết các nước đối với các công ty cổ phần. Điều đó lý giải vì sao ở Mỹ hay ở các nước khác có những công ty cổ phần hoạt động kinh doanh trong năm bị lỗ nhưng năm đó công ty vẫn trả cổ tức cho cổ đông bình thường nhưng không vi phạm luật pháp. Bởi lẽ, bộ phận lợi nhuận chưa phân phối lũy kế đến cuối kỳ trước (hay cuối năm trước) của công ty vẫn đủ hoặc dư thừa khả năng để trả cổ tức cho cổ đông.
[57] - Cổ tức của công ty cổ phần phụ thuộc rất lớn vào kết quả kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, cổ tức của công ty cổ phần không chỉ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh mà còn phụ thuộc vào chính sách cổ tức của công ty. Đây là điều lý giải vì sao có những công ty kết quả kinh doanh khá cao nhưng có những thời gian dài công ty không trả cổ tức cho cổ đông hoặc trả cổ tức khá thấp. Điều này sẽ được thấy rõ hơn trong phần nghiên cứu chính sách cổ tức của công ty cổ phần.
- Cổ tức là phần thưởng dành cho cổ đông là nhà đầu tư mạo hiểm. Xem xét trên góc độ nhà đầu tư, theo nghĩa rộng nhà đầu tư là người bỏ tiền ra ngày hôm nay để hy vọng trong tương lai có được số tiền hay có được số thu nhập lớn hơn.