CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG TIỀN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN I.1 Khái niệm cung tiền Mức cung tiền hay còn gọi là cung ứng tiền tệ hoặc cung tiền là một khái niệm dùng để chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản,… của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp (không kể các tổ chức tín dụng). Bảng 1: Các chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền tệ Ký hiệu Các tài sản được đưa vào C Tiền mặt M1 Tổng của tiền mặt, tiền gởi không kỳ hạn, séc du lịch và các khoản tiền gởi có thể viết séc M2 Tổng M1, tiền gởi tiết kiệm và tiền gởi ngắn hạn M3 Tổng M2, tiền gởi dài hạn L Tổng M3, trái phiếu tiết kiệm, trái phiếu kho bạc ngắn hạn và tài sản dễ chuyển đổi thành tiền Nguồn: Kinh tế học vĩ mô, N. Gregory Mankiw Trong nghiên cứu này, đề tài sử dụng chỉ tiêu M2 vì đây là chỉ tiêu được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu trên thế giới và nguồn dữ liệu được thống kê và công bố tương đối đầy đủ.2 Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến cung tiền 1.1 Nghiệp vụ thị trường mở Công cụ thị trường mở phản ánh việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua hoặc bán các chứng từ có giá trên thị trường tài chính, nhằm đạt đến mục tiêu điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông. Các chứng từ có giá mà các NHNN thường sử dụng để tiến 3 123doc hành các nghiệp vụ thị trường mở là các chứng khoán kho bạc, bởi vì thị trường của những chứng khoán này rất lỏng và có dung lượng kinh doanh lớn.
Khi NHNN đem chứng khoán ra thị trường mở bán, nó sẽ thu được tiền mặt và séc về. Điều này có nghĩa là khối lượng tiền mặt cung ứng cho lưu thông giảm, dự trữ của các ngân hàng trung gian giảm, làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng trung gian, vì vậy cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế bị thắt chặt hơn. Ngược lại, NHNN mua chứng khoán từ thị trường mở thì làm cho cung tiền tăng lên.2 Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là phần tiền gởi mà các ngân hàng trung gian phải đưa vào dự trữ theo luật định. Mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp, phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân hàng trung ương qui định cao hay thấp.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gởi mà ngân hàng trung gian huy động được, phải để dưới dạng dự trữ. Như vậy, mỗi ngân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi trừ đi phần dự trữ bắt buộc. Ngân hàng trung ương có thể hạn chế hoặc mở rộng khối lượng tiền tệ mà ngân hàng có khả năng cung ứng cho nền kinh tế. Một cách tổng quát, khi ngân hàng trung ương tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì NHNN có thể tăng hoặc giảm hệ số tạo tiền của hệ thống ngân hàng trung gian, và kết quả là khối lượng tín dụng mà các ngân hàng trung gian cung ứng cho nền kinh tế có thể giảm hoặc tăng.
Nhìn chung, dự trữ bắt buộc là công cụ mang tính hành chính của NHNN nhằm điều tiết mức cung tiền của ngân hàng trung gian cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo tiền.3 Lãi suất chiết khấu Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà NHNN qui định khi nó cho các ngân hàng vay tiền. Các ngân hàng vay tiền của NHNN khi tiền của họ chưa đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ chiết khấu càng thấp, tiền vay để dự trữ càng rẻ và các ngân hàng càng vay nhiều, từ đó làm tăng cơ sở tiền và tăng cung ứng tiền tệ. Ngược lại, lãi suất chiết khấu cao thì cung tiền giảm.
PHƯƠNG THỨC TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN ĐẾN NỀN KINH TẾ Mục tiêu là tìm hiểu phương thức tác động của cung tiền đối với các biến số kinh tế vĩ mô (GDP, tỷ giá hối đoái, thu nhập, giá cả) thông qua việc phân tích mô hình Mundell-Fleming. Đây là một dạng của mô hình IS-LM cho nền kinh tế mở với giả định là mức giá cố định (xem xét nền kinh tế trong ngắn hạn). Việc tìm hiểu phương thức tác động của cung tiền đến các biến số kinh tế vĩ mô sẽ giúp cho chúng ta 4 123doc có một cơ sở khoa học tìm hiểu, phân tích về tác động của cung tiền đến thị trường chứng khoán. Mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình Mundell-Fleming được thể hiện qua 3 phương trình sau: Y = C(Y-T) + I(r) + G + NX(e) hay còn gọi là phương trình IS; M/P = L(r, Y), gọi là phương trình LM r = r* Phương trình đầu tiên mô tả thị trường hàng hóa.
Nó phản ánh tổng thu nhập Y bằng tổng tiêu dùng C, đầu tư I, mua hàng của Chính phủ G và xuất khẩu ròng NX. Tiêu dùng tỷ lệ thuận với thu nhập khả dụng Y-T. Đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất r. Xuất khẩu ròng tỷ lệ nghịch với tỷ giá hối đoái (tỷ giá hối đoái e là lượng ngoại tệ tính trên 1 đơn vị nội tệ).
Phương trình thứ hai mô tả thị trường tiền tệ. Nó phản ánh cung tiền về số dư tiền tệ thực tế M/P bằng cầu L(r, Y). Cầu về số dư thực tế tỷ lệ nghịch với lãi suất và tỷ lệ thuận với thu nhập. Cung ứng tiền tệ M là biến ngoại sinh do NHNN kiểm soát.
Phương trình thứ 3 nói rằng lãi suất thế giới quyết định lãi suất trong nước. Ba phương trình này mô tả đầy đủ mô hình Mundell-Fleming. Vì vậy, chúng ta sẽ sử dụng mô hình này để phân tích tác động của chính sách cung tiền đến nền kinh tế trong điều kiện tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố định.1 Tác động của cung tiền đối với nền kinh tế nhỏ và mở cửa trong điều kiện tỷ giá hối đoái thả nổi Giả sử NHNN tăng cung tiền. Vì mức giá được giả định không đổi, sự gia tăng cung ứng tiền tệ hàm ý sự gia tăng số dư thực tế.
Sự gia tăng của số dư thực tế làm dịch chuyển đường LM sang phải (hình 1). Do đó, biện phát tăng cung tiền làm tăng thu nhập, giảm tỷ giá hối đoái (đồng nội tệ tăng giá so ngoại tệ). Trong nền kinh tế đóng, biện pháp tăng cung tiền làm giảm lãi suất và điều này thúc đẩy đầu tư. Trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa thì sự gia tăng cung ứng tiền tệ sẽ làm gia tăng áp lực giảm lãi suất trong nước, vốn sẽ chảy ra khỏi nền kinh tế.
Luồng vốn chảy ra ngăn không cho lãi suất giảm xuống và làm cho tỷ giá hối đoái giảm. Sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái làm cho hàng nội rẻ hơn so với hàng ngoại và điều này 5 123doc làm tăng xuất khẩu ròng. Do vậy, trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa tác động của cung tiền đến GDP thông qua việc làm thay đổi tỷ giá hối đoái chứ không phải lãi suất. e LM1 LM2 Tỷ giá hối đoái IS Y Thu nhập, sản lượng Hình 1: Tăng cung tiền trong điều kiện tỷ giá hối đoái thả nổi 2.2 Tác động của cung tiền đối với nền kinh tế nhỏ và mở cửa trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định Việc cố định tỷ giá hối đoái làm cho chính sách tiền tệ chỉ tập trung theo đuổi mục tiêu duy nhất là giữ cho tỷ giá hối đoái ở mức công bố.
Thực chất của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định là việc cam kết của NHNN cho phép cung ứng tiền tệ đến mức đủ để đảm bảo là tỷ giá hối đoái được duy trì ở mức công bố. Điều cần lưu ý là hệ thống tỷ giá hối đoái này chỉ cố định tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Việc nó có cố định tỷ giá hối đoái thực tế hay không còn phụ thuộc vào thời gian xem xét. Nếu giá cả linh hoạt, tỷ giá hối đoái thực tế có thể thay đổi ngay cả khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa không thay đổi.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố định chỉ làm ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ và mức giá. Nếu NHNN tăng cung ứng tiền tệ, nó sẽ tạo ra áp lực làm giảm tỷ giá hối đoái. Để duy trì tỷ giá hối đoái cố định, cung ứng tiền và đường LM phải trở lại vị trí ban đầu của chúng (hình 2). Do đó, trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định chính sách tiền tệ thông thường là mất đi hiệu lực.
6 123doc e LM Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái cố định IS Y Thu nhập, sản lượng Hình 2: Tăng cung tiền trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định 2.3 Tác động của cung tiền đến tổng cầu và mức giá Dù trong nền kinh tế đóng hay nền kinh tế mở, các chính sách làm tăng thu nhập trong mô hình Mundell-Fleming sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải. Ngược lại, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang trái. Hình 3, hình 4 biểu thị cho sự mở rộng tiền tệ với các mức giá cho trước, cung ứng tiền tệ làm tăng số dư thực tế, làm dịch chuyển đường LM xuống dưới và tăng thu nhập. Do vậy, cung ứng tiền làm dịch chuyển đường tổng cầu ra ngoài.
r LM1 P LM2 IS Lãi suất AD2 AD1 Y Thu nhập, sản lượng Thu nhập, sản lượng Y Hình 3: Chính sách tiền tệ mở rộng trong nền kinh tế đóng 7 123doc e LM1 P LM2 IS Tỷ giá hối đoái AD2 AD1 Y Thu nhập, sản lượng Y Thu nhập, sản lượng Hình 4: Chính sách tiền tệ mở rộng trong nền kinh tế nhỏ và mở Tổng cầu tăng lên trong khi tổng cung không đổi thì sẽ dẫn đến mức giá gia tăng (lạm phát). Ngược lại, tổng cầu giảm, tổng cung không đổi thì giá sẽ giảm. Các dự đoán của mô hình Mundell-Fleming đều cho chúng ta biết rằng việc tăng cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến tăng thu nhập và làm tổng cầu tăng lên và nếu tổng cung không tăng thì mức giá gia tăng. P AS P2 P1 AD2 AD1 Thu nhập, sản lượng Y Hình 5: Mô hình tổng cung – Tổng cầu ngắn hạn 8 123doc III.
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3.1 Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi giao dịch mua bán chứng khoán. Đó có thể là thị trường chứng khoán có tổ chức hoặc không có tổ chức, tập trung hay không tập trung. Đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán là thị trường tự do, tự do nhất trong các loại thị trường. Ở thị trường chứng khoán không có sự độc đoán, can thiệp cưỡng ép về giá.