MỞ ĐẦU Trong văn hóa 4m thực Việt Nam, bún là thực phẩm pho bién chi xép sau com va phở, có thé thay thé bữa ăn chính. Tuy nhiên, bún tuoi hạn chế về han sử dung, nhanh chóng bị khô cứng sau một đến hai ngày bảo quản do hiện tượng thoái hóa tinh bột xảy ra. Đề hạn chế hiện tượng thoái hóa, các nhà khoa học thực phẩm đã biến tính tinh bột nguyên thủy bằng phương pháp vật lý, hóa học va sinh học. Tuy nhiên, biến tính tinh bột băng phương pháp vật lý rất khó điều khiến, biến tính tinh bột băng phương pháp hóa học không an toàn cho người sử dụng và ô nhiễm môi trường.
Vì vậy, phương pháp biến tính tinh bột bang enzyme được ưu tiên nhất vì những phản ứng enzyme có thể được kiểm soát một cách đặc hiệu dưới những điều kiện an toàn và phản ứng enzyme tạo ra ít sản phẩm phụ “” Mặc khác, để đáp ứng nhu câu thưởng thức các món ăn ngon được làm từ bún mọi lúc mọi nơi mà không cần lo nghĩ đến việc mua bún tươi ở đâu ngon và hợp vệ sinh, có thể mang theo khi đi du lịch, hoặc giải quyết những trường hợp cấp bách khi xa chợ, có thé dự trữ trong nhà mà không can lo ngại về van dé thời gian sử dung, rất cần một công nghệ sản xuất bún tươi có tốc độ thoái hóa chậm, hạn sử dụng dài. Do đó, việc “nghiên cứu quá trình biến tính tinh bột gạo băng enzyme a- glucanotransferase và thử nghiệm sản xuât bún tươi đóng gói” là hét sức cân thiệt. — Mục tiêu nghiên cứu: Biến tính tinh bột gạo băng enzyme 4 — a — glucanotransferase từ Thermus scotoductus (YSaGT) và ứng dụng sản xuất bún tươi có tốc độ thoái hóa chậm. — Nội dung nghiên cứu: + Khảo sát hàm lượng enzyme và thời gian ủ enzyme với tinh bột gạo dé thu được tinh bột biến tính có tốc độ thoái hóa chậm.
+ Tối ưu hoá băng phương pháp quy hoạch thực nghiệm quá trình biến tính tinh bột băng enzyme dé thu được tinh bột biến tính có tốc độ thoái hóa chậm nhất. + Khảo sát tỷ lệ tinh bột gạo biến tính thay thế bột gạo trong quy trình sản suất bún tươi. Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Quang Trí CHUONG 1.
Tinh bột '°®' Tinh bột là một carbohydrate không hòa tan trong nước và được thực vat sử dụng như là một nguồn dự trữ glucose. Tinh bột hiện diện dưới dang là những hạt bán tinh thé (semi-crystalline) chủ yếu bao gồm hai polymer tạo nên từ những phân tử glucose nhưng khác nhau vê tinh chat chức năng và câu trúc. Một vài đặc tính hóa lí quan trọng cua amylose va amylopectin Dac tinh Amylose Amylopectin Cấu trúc phân tử Mach thăng (liên kết a -l 4) Mạch nhánh (a -1,4 ; a -1,6) Khối lượng phân tử ~ 10” Daltons ~ 10° Daltons Mức độ polymer hóa 1500 - 6000 3.10 Cấu trúc xoắn 6c Mạnh Yếu Tạo màu với lodine Xanh Đỏ tím Su thoái hóa Nhanh Chậm Đặc tính gel Cứng, nhiệt độ tan chảy cao | Mềm, nhiệt độ tan chảy thấp (130 — 150°C) 55 — 70°C Dac tinh tao mang, soi Tốt Yếu 1. Tỉnh bột gạo |” Tinh bột gạo được sử dụng như một phụ gia trong những sản phẩm thực phẩm và những sản phẩm công nghiệp khác.
Tinh bột gạo bao gồm những hạt có kích thước nhỏ hơn 5 um với dãy phân bố kích thước nhỏ, màu trang, không mùi. Tinh bột gạo với độ tinh sạch cao có hàm lượng protein trên bề mặt hạt còn lại phải thấp đến mức có thé để làm giảm thiểu sự hư hỏng suốt quá trình bảo quản vì tinh bột gạo được xem là nguyên liệu ban đầu trong quá trình biến đổi hóa học, lên men hoặc trong những ứng dụng công nghiệp mong muốn khác. Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Quang Trí pháp kiêm hóa [17] + Sản xuất tinh bột gạo bang phương Protein có trong gạo chiếm từ 7 — 8% (tính theo khối lượng chất khô), protein liên kết chặt chẽ với bề mặt tinh bột hạt gao và khó loại ra.
Ngoài ra, kích thước hat tinh bột gạo nhỏ nên lắng chậm trong nước. Quá trình lắng chậm gây tôn thất trong suốt quá trình tách và tinh sạch tinh bột gạo. Day cũng là lý do làm cho việc tinh sạch tinh bột gạo tốn kém hơn việc tinh sạch những tinh bột khác. Nhược điểm Thải ra môi trường một lượng lớn kiểm và muối gây tốn kém trong việc xử lý nước thải ra.
Ưu điểm Hiệu suất thu hồi cao, protein còn sót lại thấp bởi phan lớn protein trong gạo là glutelin — một loại protein hòa tan trong kiềm. Hình ảnh kính hiển vi điện tử quét của tỉnh bột gạo thu được sau khi xử lí NaOH ở các nông độ khác nhau: a) 0.30% (khối luong/thé tích) trong thời gian 24h, ở 20°C, với tỷ lệ gao:NaOH là 1:10 (khối lượng/thê tích) — Hinh a) cho thay những hat tinh bột hình lục giác vẫn còn liên kết với nhau bởi protein làm cho việc phân lập tinh bột khó khăn. Ngoài ra, những phần tử protein nhỏ bé không bi phân giải bởi kiểm vẫn còn trong bột gạo nguyên thủy có thé được nhìn thấy. Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Quang Trí — Hình b) không còn phan tử protein được quan sát thay. Tuy nhiên, nhìn chung những hạt tinh bột vẫn còn liên kết lại với nhau. Sự hiện diện của protein còn lại trong tinh bột được xác định bởi kết quả đo phố huỳnh quang. — Hinh c) và hình d) cho thay những hat tinh bột tách rời nhau, những hat tinh bột này có hình thái và kích thước trong khoảng 3 — 8 um.
- Hình e) cho thấy những hạt tinh bột được phân lập không còn nguyên ven và khối tinh bột thé hiện đặc tính giống gel. — Hình f) gần như toàn bộ những hat tinh bột được phân lập đã không còn nguyên vẹn. Điều này cho thấy khi xử lý kiềm ở nồng độ cao hơn 0.24% sẽ gây sự phá hủy hình thái hat tinh bột tuyến tính với nồng độ kiềm do “hiện tượng hồ hóa kiềm tính” (alkaline gelatini zation phenomenon). Tinh bột biến tính !°' + 191 Biến tính tinh bột là quá trình làm biến đối cấu trúc và tác động lên các liên kết hydro của tinh bột một cách có kiểm soát để mở rộng phạm vi ứng dụng cua tinh bột.
Ngoại trừ tinh bột biến tính vật lý (hồ hóa trước), sự biến đổi này chỉ diễn ra ở cấp độ phân tử, hoặc ít hoặc không có thay đổi trên bề mặt bên ngoài của hạt tinh bột. Do đó, nguồn sốc thực vật của tinh bột vẫn có thé xác định được ở mức vi mô. Mục đích của biến tính tinh bột nhằm: - Cải biến các tính chất của sản phẩm - Tăng giá trị cảm quan - Tao mặt hàng mới Dựa vào bản chất của phương pháp có thể phân loại các phương pháp biến tính như sau: - Phương pháp biến tính vật lý - Phương pháp biến tính hóa học - Phương pháp biến tính sinh học - Phương pháp biến tính hóa sinh - Biến tính băng cách kết hợp các phương pháp trên Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Quang Trí 1.
Tỉnh bột biến tính bằng phương pháp vật lý % Tinh bột hô hóa sơ bộ (pregeletinized starch) Kiểu biến tính hồ hóa trước tạo cho tinh bột khả năng hồ hóa mà không cần nấu. Sản phẩm được gọi là “pregeletinized starch”, “pregel”, “pre-cooked starch” hay “instant starch”. Phương pháp này có thé áp dụng cho cả tỉnh bột tự nhiên và tinh bột đã biến tính bằng các phương pháp khác. Nguyên tắc của phương pháp biến tính này là hồ hóa huyền phù tinh bột băng nhiệt rồi nhanh chóng say khô để trả lại trạng thái bột khô trước khi tinh bột bị thoái hóa.
Trong thực tế, tinh bột được nấu và sấy khô cùng lúc, băng cách dùng trồng sấy, ép đùn (extrusion) hoặc sấy phun. Trong kỹ thuật sấy băng trông và ép din, hạt tinh bột chịu nhiều tác động cơ học như nhiệt độ, lực cắt cơ học, áp suất nén cao, và bị thay đôi cau trúc nhiều. Ngược lại, trong kỹ thuật say phun, huyền phù tinh bột được hồ hóa và sấy khô đồng thời nhờ hơi nóng, do đó hạt tinh bột hầu như còn nguyên vẹn, rất ít bị phá hủy bởi lực cắt và nhiệt. Sản phẩm này gọi là tinh bột CWS (cold water sweling starch) Tinh bột hồ hóa sơ bộ có những tính chất sau: - Truong nhanh trong nước - Biến đổi chậm các tính chất khi bảo quan - Bén khi ở nhiệt độ thấp - Có độ đặc và khả năng giữ nước, giữ khí tốt Do đó người ta thường dùng tinh bột hỗ hóa sơ bộ này trong mọi trường hợp khi can độ đặc, gitr nước mà không cần nấu.
* Tinh bột xứ lý nhiệt (Heat treated starch) Trong cac điều kiện có kiểm soát, hat tinh bột được xử lý và sau đó được trả về trạng thái hat ban dau. Tinh bột sản phẩm không những duy trì được tính chất hỗ hóa đúng mức (cook—up) ma hồ tinh bột còn có độ nhớt và độ bền được cải thiện. Có 2 loại quá tình xử lý nhiệt, cả hai đều gây ra biến tính vật lý nhưng không hồ hóa tinh bột, không phá hủy tính nguyên vẹn của hạt, hoặc không làm mắt tính lưỡng chiết (birefringence). Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Quang Trí - Quá trình xử lý nhiệt hàm 4m (heat—moisture treatment): tinh bột được làm 4m và gia nhiệt đến quá nhiệt độ hồ hóa, nhưng độ âm không đủ dé quá trình hồ hóa xảy ra. Tinh bột xử lý nhiệt âm 14 dạng tinh bột biến tính vật lý lâu đời nhất. - Quá trình “annealing”: là quá trình gia nhiệt huyền phù tinh bột ở dưới nhiệt độ hồ hóa và giữ trong một thời gian xác định. Các sản phẩm tinh bột xử lý nhiệt này được xem là tinh bột nguyên thủy (native) va do đó chỉ cần ghi trên nhãn là “tinh bột thực phẩm” (“food starch”).
* Tinh bột xử lý vi sóng Phương pháp biến tính tinh bột bằng vi sóng được xem là một trong những phương pháp “mới nhất” và “sạch nhất” hiện nay. Phương pháp này đang được nghiên cứu và hoàn thiện để ứng dụng rộng rãi trong thực tế nhăm thay thế các phương pháp biến tính hóa học. Nguyên tắc chung tác dụng các tia bước sóng khá ngắn mang năng lượng cao trong một khoảng thời gian xác định lên khối tinh bột (tinh bột có thé ở dạng khô hay dạng huyền phù).