Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tinh bột Tinh bột là nguồn cung cấp carbohydrate chủ yếu và được dữ trữ với số lượng lớn trong thực vật. Tinh bột là một polymer được tạo thành từ các đơn phân là glucose thông qua liên kết α-D(1-4) và α-D(1-6) glycosic. Hạt tinh bột được chia thành 2 vùng: vô định hình và kết tinh.
Vùng vô định hình chiếm khoảng 70% khối lượng hạt tinh bột, gồm phân tử amylase và mạch nhánh phân tử amylopectin. Vùng tinh thể chiếm khoảng 30% khối lượng hạt tinh bột, gồm chủ yếu là các đoạn mạch thẳng của phân tử amylopectin [3,4].1: Cấu trúc hạt tinh bột Phân tử amylose có dạng mạch thẳng được tạo thành bởi các đơn phân glucose liên kết với nhau bằng liên kết α-D(1-4). Hàm lượng amylose chiếm khoảng 20 – 30% khối lượng tinh bột tùy theo loài, amylose có mức độ polymer hóa (DP) từ 500 – 600, khối lượng phân tử trong khoảng 107 – 109 g/mol. Mạch phân tử amylose dài có thể hình thành cấu trúc xoắn helix dạng đơn hoặc đôi.
Nhiều phân tử như iodine, lipid, các acid béo và các hydroxycarboxylic có khả năng tạo thành phức dạng mắt lưới với amylose. Amylose không dễ tan trong nước va hình thành dạng gel cứng [6]. 2 Amylopectin là một glucan phân nhánh, trong phân tử amylopectin ngoài liên kết α-D(1-4) còn có liên kết α-D(1-6) với tỷ lệ 4 – 5%. Amylopectin là một trong số các phân tử lớn nhất có trong tự nhiên với mức độ polymer hóa (DP) trung bình là 2.106 và khối lượng phân tử lớn gấp vài lần so với phân tử amylose.
Amylopectin dễ hòa tan trong nước và không tạo gel. Hầu hết phân tử amylopectin có 3 loại mạch khác nhau về chiều dài. Mạch nhánh ngoài cùng được gọi là chuỗi A, chuỗi A được gắn lên chuỗi B, chuỗi B được gắn lên chuỗi B khác hoặc được gắn lên chuỗi C. Mỗi phân tử amylopectin chỉ có 1 chuỗi C duy nhất [6].
Sự hồ hóa: Sự hồ hóa là một quá trình phá vỡ cấu trúc hạt tinh bột, chuyển tinh bột từ trạng thái ban đầu thành dung dịch keo dưới tác dụng của nước và nhiệt.Nhiệt độ hồ hóa phụ thuộc vào kích thước và nguồn gốc của hạt tinh bột , thành phần amylose và amylopectin, tỷ lệ tinh bột – nước, pH, các muối vô cơ, các chất không điện ly.Trong quá trình hồ hóa độ nhớt của dung dịch tăng dần tới một điểm cực đại rồi giảm xuống [2]. Sự tạo gel và thái hóa: Hồ tinh bột khi để nguội các phân tử tinh bột sẽ tương tác với nhau và sắp xếp lại để tạo thành gel. Gel tinh bột chỉ chứa liên kết hydro tham gia nối trực tiếp các mạch tinh bột hoặc gián tiếp thông qua các cầu phân tử nước. Tinh bột cũng có khả năng đồng tạo gel với protein [2,4].
Sự thái hóa gel tinh bột là hiện tượng gel bị tách nước. Tốc độ thoái hóa sẽ tăng khi giảm nhiệt độ và đạt cực đại tại pH 7. Tăng hoặc giảm pH cũng đều giảm tốc độ thái hóa. Amylose là thành phần chủ yếu của tinh bột gây ra sự thái hóa và sự thái hóa do amylose gây ra là không khắc phục được.
Trong khi đó gel chứa nhiều amylopectin thái hóa thì có thể quay lại trạng thái ban đầu được khi đun nóng [2]. Gạo và bột gạo: 1. Nguồn gốc lúa gạo: Lúa gạo (Oryza sativa L.) thuộc họ Porceae Gramineae được trồng ở hầu hết các châu lục và được con người sử dụng từ hơn 5000 năm trước. Gạo là nguồn cung cấp 20% nhu cầu năng lượng cho toàn thế giới.
Ở các nước châu Á gạo cung cấp tới 80% nhu cầu năng lượng và 20% nhu cầu protein. Trung Quốc và Ấn Độ được xem là nơi bắt nguồn của lúa gạo, do vậy có 3 giống lúa thủy tổ được bắt nguồn từ những địa danh trên là : japonica và indica [3,7]. Gạo được sử dụng là một loại lương thực chủ yếu trong bữa ăn hàng ngày dưới dạng hạt đã được xay xát, ngoài ra gạo cũng được nghiền thành bột hoặc tách tạp chất để được tinh bột gạo để dùng trong các nghành công nghệ dược phẩm, thực phẩm và chăn nuôi [3]. Tinh bột gạo và bột gạo có rất nhiều ứng dụng bởi vì những đặc tính có lợi của nó như: dễ tiêu hóa, không chứa thành phần gây dị ứng, không chứa gluten, hương vị nhạt và ở dạng tự nhiên tinh bột gạo chứa nhiều đặc tính tạo cấu trúc khác nhau [3,7] 1.
Thành phần và cấu trúc của tinh bột gạo: Hạt lúa sau khi qua quá trình xay xát để bóc tách các lớp vỏ tạo thành hạt gạo có thể chứa tới 90% tinh bột. Hàm lượng protein nằm trong khoảng 4.9% và chủ yếu là các protein tan trong kiềm. Hàm lượng lipid chiếm lượng rất thấp. [3] Tùy theo quy trình sản xuất khác nhau mà các thành phần trong bột gạo có thể thay đổi ít nhiều.
Nhìn chung hàm lượng tinh bột vào khoảng 73 – 85% và protein chiếm khoảng 0.42% khi sản xuất tinh bột gạo bằng phương pháp kiềm.Tinh bột gạo được làm từ phương pháp enzym có hàm lượng tinh bột khoảng 95%, protein 0. Các thành phần chiếm hàm lượng thấp như: lipit( 0. Hạt tinh bột gạo có kích thước vào khoảng 3 - 8µm, có dạng hình đa giác và có bề mặt láng mượt. Hạt tinh bột gạo có cấu trúc tinh thể loại A, trừ các loại gạo biến đổi 4 gen có thành phần amylose cao có cấu trúc tinh thể loại B.
Hàm lượng tinh thể trong hạt tinh bột gạo chiếm khoảng 29.3% và hàm lượng này không có mối liên hệ với tỷ lệ amylose/amylopectin [3].Trong gạo nếp hàm lượng amylose vào khoảng 0. Gạo thường hàm lượng amylose có thể dao động trong khoảng 7 – 33%.Tinh bột gạo nếp thể hiện màu đỏ hoặc nâu với thuốc thử iod, tinh bột gạo thường lại cho màu tím xanh đến xanh. Dựa theo hàm lượng amylose mà gạo được chia thành các loại khác nhau: gạo nếp (1-2%), gạo hàm lượng amylose thấp (7- 20%), gạo hàm lượng amylose trung bình (20 -25%) và gạo hàm lượng amylose cao (>25%).Thành phần amylose có ảnh hưởng lớn đến các đặc tính của tinh bột gạo vì thành phần này tạo nên độ cứng, độ trắng, độ đục, độ nở và khẳ năng hấp thụ nước trong quá trình nấu chín. Các loại gạo có hàm lượng amylose thấp sau khi nấu chín thường mềm và dính trong khi đó các loại gạo có hàm lượng amylose cao thì có cấu trúc cứng hơn và nở hơn [3,7,11].
Theo kết quả nghiên cứu của Juliano (1998) cho thấy 40 – 67% amylose trong tinh bột gạo là mạch thẳng và 33 – 60% là có phân nhánh. Amylose của gạo có mức độ polymer hóa (DP) vào khoảng 987 – 1225 đơn vị glucose (GU) và chiều dài mạch vào khoảng 276 – 430 GU [3]. Thành phần amylopectin trong gạo có mức độ phân nhánh cao, khối lượng phân tử của amylopectin trong gạo nếp vào khoảng 5.7x109 còn trong gạo tẻ thì khoảng 2. Chỉ số DP của amylopectin khoảng 2700 đến 12000 GU và số lượng mạch nhánh trung bình là 128 – 586[3].
Khả năng trương nở, hòa tan và hồ hóa: Khả năng trương nở và hòa tan của hạt tinh bột gạo phụ thuộc rất nhiều vào sự tương tác giữa mạch tinh bột trong vùng tinh thể và vùng vô định hình. Mức độ tương tác giữa các mạch tinh bột chịu tác động cảu các yếu tố như: hàm lượng amylose, cấu trúc phân tử của amylose và amylopectin, cấu trúc hạt và các yếu tố khác (như sự tạo phức với lipid. Theo Tester và Morrison (1990) thi khả năng trương nở của hạt tinh bột ngũ cốc phụ thuộc chủ yếu vào cấu trúc của amylopectin. Mạch amylopectin ngắn (DP 6 – 9) có khả năng trương nở tốt ở nhiệt độ 55 – 650C, 5 ngược lại mạch dài (DP 12 – 22) thì khả năng trương nở kém hơn.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy thường thì tinh bột gạo có hàm lượng amylose cao thì khả năng trương nở tốt hơn. Tuy nhiên khả năng trương nở và khả năng hòa tan của tinh bột không có mối liên hệ tuyến tính. Nhiệt độ hồ hóa tinh bột gạo chịu ảnh hưởng lớn bởi hàm lượng amylopectin và chỉ số DP của phân tử này. Ngoài ra nhiệt độ hồ hóa còn phụ thuộc vào các yếu tố môi trường và phương thức sản xuất.
Nhiệt độ hồ hóa của các loại gạo đóng vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian nấu chín, lượng nhiệt cần sử dụng và thiết bị sử dụng. Sự phân loại tinh bột dựa vào nhiệt độ hồ hóa như sau: nhiệt độ hồ hóa thấp (64 - 670C), nhiệt độ hồ hóa trung bình (68 - 710C) và nhiệt độ hồ hóa cao (75 – 790C) [3,7]. Tinh bột gạo biến tính: Tinh bột gạo mặc dù được tiêu thụ với số lượng lớn tuy nhiên các đặc tính tự nhiên của nó vẫn còn có nhiều hạn chế. Một số các đặc tính bất lợi của tinh bột gạo như: kém ổn định trước điều kiện nhiệt độ thay đổi, không bền dưới tác dụng của cắt, thay đổi tính chất khi pH thay đổi [3].
Chính vì vậy biến tính tinh bột gạo là giải pháp nhằm làm giảm các đặc tính bất lợi của tinh bột gạo tự nhiên và làm tăng các đặc tính có lợi để phù hợp với yêu cầu sản xuất và chất lượng của sản phẩm. Nhóm các phương pháp biến tính tinh bột gạo [27]: - Phương pháp hóa học. - Phương pháp vật lý. - Phương pháp enzyme.
- Phương pháp biến đổi gen 1. Tinh bột gạo biến tính bằng phương pháp hóa học: Tinh gạo bột biến tính bằng phương pháp hóa học được tạo thành bằng cách xử lý tinh bột với các tác nhân hóa học để làm xuất hiện các nhóm chức có chức năng đặc biệt. Mục đích là để thay đổi các đặc tính nấu chín của bột gạo, giảm hiện tượng thoái hóa tinh bột, giảm xu hướng gel hóa, tăng khả năng ổn định khi lạnh đông – 6 tan giá, tăng khả năng tạo màng, tăng độ kết dính và tăng khả năng nhũ hóa [38]. Các cơ chế chính để hình thành tinh bột biến tính gồm có: sự tạo thành ether hoặc ester, sự oxy hóa nhóm hydroxyl thành carbonyl hoặc carboxylic và thủy phân liên kết glycosidic [27] .2: Tinh bột biến tính bằng phương pháp hóa học 1.
Tinh bột liên kết ngang: Tinh bột liên kết ngang được tạo thành khi cho tinh bột tự nhiên phản ứng với các tác nhân đa chức năng, các tác nhân này sẽ tác động lên 2 hay nhiều nhóm hydroxyl trên cùng một phân tử hay trên các phân tử tinh bột khác nhau. Liên kết cộng hóa trị được hình thành giữa các phân tử sẽ làm cho cấu trúc của hạt tinh bột được gia cố vững chắc.