CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Đặt vẫn đề Tiểu đường là một bệnh nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh tiêu đường ngày càng tăng. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ này ở khu vực Đông Nam Á là 2%-4%; Thái Lan: 5%-7%; Singapore: 7%- 9%; Việt Nam: 2,7%.
Nêu không được phòng chống và cứu chữa kịp thời, bệnh dễ biến chứng: 44% người bệnh đái tháo đường bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng mắt. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiêu đường và số này tiếp tục tăng lên trong thời gian tới. Ước tính năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170%.
Vì vậy, cần duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân đối nhằm én định đường huyết là yếu tố cần thiết để những người bị bệnh tiêu đường tận hưởng cuộc sống tươi đẹp và khỏe mạnh. Gạo lức là loại gạo chỉ loại bỏ lớp vỏ trâu khỏi hạt lúa, không bỏ mam va cám của hạt. Gạo lức cung cấp nhiều complex carbohydrate, chất xơ, chất dầu, vitamin và chất khoáng cũng được tìm thấy ở phần bọc ngoài của hạt gạo lức. Gạo lức so với gạo xát trắng có lượng protein nhiều hơn 30%, vitamin B1 gấp 4 lần, chất béo gấp 3 đến 5 lần, vitamin B5 (acid pantotenic) gấp 4 lần, acid linoleic (chỉ có trong sữa mẹ) chiếm 30% trong tổng hàm lượng chất béo của gạo lức.
Các acid amin cần thiết mà cơ thể không tự tổng hợp được đều có mặt đầy đủ trong thành phần đạm của gạo lức. Theo nhiều nghiên cứu khoa học cho biết chất xơ trong gạo lức giúp phòng ngừa các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, bệnh tim mạch và đặc biệt là bệnh tiêu đường. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người ăn gạo lức 2 lần trở lên mỗi tuần giảm 11% nguy cơ mắc bệnh tiêu đường týp 2, so với những người ăn chưa tới một lần mỗi tháng. Việc ăn thay thế 50g gạo trắng bằng cùng lượng gạo lức mỗi ngày giảm được 16% nguy cơ mắc bệnh.
Xuất phát từ thực tế trên và để góp phần đa dạng hoá các mặt hàng thực phẩm dành cho người bị bệnh tiểu đường cũng như các sản phẩm từ ngũ cốc chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề sản xuất bột gạo lức từ hạt thóc đã nảy mầm sơ bộ, có bổ sung thêm chất xơ (FOS), Isomalt cho người bị bệnh tiểu đường. Sản phẩm này vừa tiện lợi vừa rẻ tiền để hỗ trợ cho người bị bệnh tiểu đường. Mục tiêu nghiên cứu Sử dụng gạo lức có xứ lý ngâm ủ tạo nên các thành phần đặc trưng và tăng hàm lượng, kết hợp bổ sung thêm chất xơ (FOS), Isomalt tạo ra sản phẩm bột gạo lức ăn liền cho người bị bệnh tiêu đường. Xác định chế độ ngâm ủ, chế độ hấp, chế độ sấy, chế độ nấu cơm, công thức phối chế, thiết lập quy trình sản xuất thích hợp để tạo sản phâm bột gạo lức có chất lượng tốt, giá trị dinh dưỡng cao và phù hợp cho người bị tiêu đường.
Nội dung nghiên cứu 1. Khảo sát quá trình gạo lức nảy mầm - Khao sat các thành phần trong hạt lúa lức đã ngâm đến nhú mầm qua từng khoảng thời gian dự định: 11 giờ, 23 giờ, 37 giờ, 47 giờ, 56 giờ — Phân tích sự biến đổi các chất dự trữ trong hạt: xác định hàm lượng acid amin, protein, chất béo, đường khử và nột số vitamin sau từng thời gian ủ 1. Xác định thời gian hấp - Khao sat các thành phần về vitamin BI, vitamin Bó, acid amin, đường khử qua thời gian hấp 10 phút, 15 phút, 20 phút, 25 phút 1. Xác định chế độ nấu cơm ~_ Đánh giá cảm quan cơm sau khi nấu với tỷ lệ gạo: nước làI:1, 1:1.
Xác định nhiệt độ sấy - Khao sat su thay đổi acid amin, vitamin BI, vitamin Bó ở nhiệt độ 40 °C, 45 °C, 50°C, 55 °C, 60°C, 1. Xác định tỷ lệ phối trộn: —_ Tỷ lệ giữa bột gạo lức qua nảy mầm và các hợp phần khác (Isomat, chất xơ) —_ Tỷ lệ giữa bột gạo lức không qua nảy mầm và các hợp phần khác (Isomat, chất xơ) 13 CHUONG 2: TONG QUAN 2. Gao lire Gao lite, gạo lức, gạo rằn hay gạo lật là loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trâu, không bỏ mầm và cám của hạt gạo bên trong. Tức là, nếu thóc xay kỹ sẽ được trấu, cám và gạo.
Nếu xay sơ bộ sẽ chỉ có trâu và gạo lức (lớp cám còn nguyên bên ngòai nội nhũ), nên gạo lức gồm: gạo và cám. Cấu tạo của hạt lúa Trâu Pericarp Seed Coat vn Nucellus Cam Aleurone Layer Nội nhũ Mâm Hình 2.1: Cấu tạo hạt lúa Cách tạo ra gạo lức ở quy mô công nghiệp: Lúa khô (âm độ 10%) được đưa vào cối 1 lúc này trong cối có hệ thống tách vỏ trâu ra. Sau giai đọan này trong gạo vẫn còn lẫn thóc với tỷ lệ: khoảng 60% gạo, 40% thóc. Dây truyền tiếp tục cho thóc vào cối 2.
Sau giai doan này thu được gần như 100% gạo lức (lúc này thóc còn sót lại rất ít, nên xem như không có ). 14 _ — Hè sây Lúa Điện năng Lúa Khô ú Cối xay 1 Vv Cối xay 2 <Gootie > Bui, Trau Hình 2.2: Sơ đồ minh họa sản xuất gạo lức 2. Thành phần dinh dưỡng và hóa học của gạo lức Theo bộ phận cấu tạo: e Trong chất cám bọc ngoài hạt gạo lức có: v Chất dầu là tocotrienol factor (TRE) có tác dụng khử trừ những chất hóa học gây nên hiện tượng đông máu và đồng thời giảm cholesterol. v Chất cám bọc ngoài gạo lức còn có thêm một chất khác có khả năng chống lại chất xúc tác enzyme HMG-CoA-là lọai enzyme làm gia tăng lượng cholesterol xấu LDL.
e©_ Lớp cùi của gạo lức Có trên 120 chất kháng ôxy hóa, chúng có thể bảo vệ các tế bào của cơ thể khỏi bi xâm hại bởi các gốc tự do như CoQI0, acid alpha-lipoic, cdc proanthocyanidin oligomic, SOD, các tocopherol va tocotrienol, IP6, glutathione, carotenoid, selen, các phytosterol, gamma-oryzanol, lutein va lycopene. Các gốc tự do rất nguy hiểm đối với sức khỏe của người: xâm hại và phá hủy nhiều loại tế bào, trong đó có tế bào não và ADN (acid desoxyribonucleic) - cơ sở vật chất của di truyền. Sự xâm hại và phá huỷ tế bào do các gốc tự do sẽ được tích luỹ và tăng lên theo tuổi tác; cũng là nguyên nhân của hầu hết các rối loạn về sức khỏe và phát sinh bệnh tật 15 như bệnh mụn trứng cá, bệnh alzheimer, bệnh viêm khớp, ung thư, bệnh tim mạch, vô sinh, bệnh Parkinson, già trước tuôi, các viêm nhiễm mãn tính, đột quy. Các chất kháng ôxy hóa được coi như là những người lính bảo vệ tế bào của cơ thê.
Chúng “lấy đi viên đạn” khi tế bào cơ thể bị gốc tự do tấn công, do đó tế bào tránh được sự hư hại. Các chất kháng ôxy hóa mạnh ở trong lớp cùi của gạo lức đều đã giúp cho cơ thể phòng chống và giảm rủi ro đối với các bệnh nói trên. Ngoài ra, trong gạo lức còn chứa phytate giúp ngăn ngừa ung thư ruột. Thành phần của gạo lức gồm chất bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các vitamin như BI, B2, B3, Bó; các axit như pantothenic (vitamin B5), paraaminobenzoic (PABA), phytic; các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magiê, selen, glutathion (GSH), kali va natri.
Ở gạo trắng qua quá trình xay, giã, 67% vitamin B3, 80% vitamin B1, 90% vitamin B6, một nửa lượng mangan và hầu hết chất xơ đã bị mất đi Các chuyên gia dinh dưỡng cũng nhận thấy, một lon gạo lức khi nấu thành cơm chứa 84 mg magiê, trong khi đó ở gạo trắng chỉ có 19 mg. Lớp cám của gạo lức cũng chứa một chất dầu đặc biệt có tác dụng điều hòa huyết áp, làm giảm cholesterol xấu, giúp ngăn ngừa qua các bệnh tim mạch. Giá trị dinh dưỡng của gạo lức Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz) Năng lượng 1.548 kJ (370 kcal) Cac bon hydrat 77.85 g Chất xơ thực phẩm 3.401 mg (31%) Riboflavin (Vit.093 mg (6%) 16 Niacin (Vit.493 mg (30%) Vitamin Be 0.509 mg (39%) Axit folic (Vit. By) 20 ng (5%) Can xi 23 mg (2%) Sat 1.47 mg (12%) Ma gié 143 mg (39%) Mang gan 3.02 mg (20%) Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ thường nhật của người lớn.
Nguồn: Cơ sở đữ liệu USDA Gạo lức so với gạo xát trắng chất đạm nhiều hơn 30%, vitamin BI gấp 4 lần, chất béo gấp 3 đến 5 lần, vitamin B5 (acid pantotenic) gấp 4 lần, acid linoleic (chỉ có trong sữa mẹ) chiếm 30% trong tổng hàm lượng chất béo của gạo lức. Các acid amin cần thiết mà cơ thể không tự tổng hợp được đều có mặt đầy đủ trong thành phần đạm của gạo lức. Theo nhiều nghiên cứu khoa học cho biết chất xơ trong gạo lức giúp phòng ngừa các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, bệnh tìm mạch và đặc biệt là bệnh tiểu đường. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người ăn gạo lức 2 lần trở lên mỗi tuần giảm 11% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường týp 2, so với những người ăn chưa tới một lần mỗi tháng.
Việc ăn thay thế 50g gạo trắng bằng cùng lượng gạo lức mỗi ngày giảm được 16% nguy cơ mắc bệnh. Gạo lức là một loại gạo chỉ xay bỏ trâu tức vỏ lúa, không bỏ mầm và cám của hạt gạo bên 17 trong. Nhiều nghiên cứu khoa học gần đây cho biết những thực phẩm có nhiều chất xơ, như gạo lức và các loại đậu khác có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư ruột không phải vì chất xơ mà chính là chất phytate chứa trong chất xơ. Các nhà khoa học cũng tìm thấy ở trong chất cám gạo lức có một thứ dầu đặc biệt mang tén 14 tocotrienol factor TRF có kha năng chống cholesterol xấu và khử trừ những chất hóa học gây ra hiện tượng đông máu.
Bác sĩ Asaf Qureshi thuộc University of Wisconsin Hoa kỳ đã thử nghiệm trên một số người thì thấy rằng chất TRE trong cám gạo lức đã làm giảm 12 đến 16 % cholesterol (rong máu.