Chương 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ KHOAI MỠ [5] [18] [21] [22] [23] [24] [26] 1.1 Nguồn gốc và phân loại: [5 ] [18] [23] [26] Hình 1. Khoai mỡ Dioscorea alata Giới (regnum): Plantae Ngành (Division): Angiospermae Lớp (Class): Monocots Bộ (ordo): Dioscoreales Họ (familia): Dioscoreaceae Chi (genus): Dioscorea Loài (species): D. alata Khoai mỡ (Danh pháp khoa học: Dioscorea alata Linn) là một trong những loài của giống khoai Dioscorea, đây là loại dây leo cho củ được trồng nhiều ở khắp vùng nhiệt đới Ấn Độ, Malaysia,Nam Mỹ, Châu Phi, Nam Úc Châu, Đông Nam Hoa kỳ.
Là một loại cây đa loài có nguồn gốc chủ yếu từ châu Phi và châu Á trước khi lan truyền đến Nghiên cứu sản xuất bánh khoai mỡ chiên sấy chân không 3 GVHD: PGS.TS Đống Thị Anh Đào các vùng khác nhau trên thế giới (Hahn et al, 1987) là một loại cây trồng chủ yếu ở Tây Phi (Asiedu et al, 1992. Dioscorea alata có nhiều tên khác nhau tùy theo vùng phân phối.Ở Việt Nam, khoai mỡ còn có tên khác là khoai tím, khoai vạc, củ cái, củ mỡ, củ cầm, củ đỏ, củ tía, khoai tía, khoai ngà, khoai long, khoai bướu, khoai trút, khoai ngọt. Ngoài tên khoai mỡ tím, còn những tên khác bao gồm : Khoai mỡ lớn, rễ huỳnh tinh Guyane, khoai mỡ mười tháng, khoai mỡ nước, khoai mỡ trắng, khoai mỡ có cánh, hay tên gọi đơn giản “ khoai mỡ ”, thuộc họ Dioscoreaceae. Trong những nền văn hoá khác và ngôn ngữ khác, được biết dưới tên uhi ở Hawaii, ratalu hay khoai mỡ tím violet de l’igname ở Ấn Độ, ube ở Philipin.
Đây là loại khoai được trồng làm cây lương thực rất lâu đời, được biết từ thời cổ đại. Một số loài khác của Dioscorea cũng được con người trồng, hoặc khai thác từ cây dại để sử dụng như một loại lương thực như: D. alata là loại cho năng suất cao nhất trong các loài thực vật có củ và có thể lưu trữ tương đối dài hơn so với các loài khác (5-6 tháng) Hiện nay, khoai mỡ ở Việt Nam có hai giống được trồng phổ biến cho năng suất cao là giống khoai tím và giống khoai trắng. Loại ruột trắng có giống Mộng Linh, củ chùm, nặng ký (từ 4– 5 kg/củ), năng suất cao.
Loại ruột tím lại chia ra giống tím than và tím bông lau, loại này củ suông, dài, tuy củ nhỏ hơn loại ruột trắng nhưng ăn ngon, khi chế biến thành món ăn màu sắc cũng đẹp hơn nên được thị trường ưa chuộng - Tím than: củ dài 20 – 30cm, tím 2/3 củ đến hết củ, phẩm chất dẻo, bùi, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, năng suất 15 – 18 tấn/ha. - Tím bông lau: củ dài 25 – 35cm, tím 1/3 củ đến ½ củ, phẩm chất dẻo, năng suất từ 18 – 20 tấn/ha. 3 Khoai trắng Mộng Linh: Nghiên cứu sản xuất bánh khoai mỡ chiên sấy chân không 4 GVHD: PGS.TS Đống Thị Anh Đào Củ chùm, nặng từ 4 – 5kg/củ, dài 30 – 40cm. Năng suất cao từ 20 – 30 tấn/ha.
Củ trắng đến trắng ngà, phẩm chất dẻo, nở, không phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, thích hợp cho chế biến xuất khẩu. Trên thế giới, khoai mỡ được xem là một trong những loại cây lương thực quan trọng. Nó là loại cây ăn củ nhiệt đới quan trọng thứ ba sau sắn và khoai lang (Fu et al, 2005). Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, khoai mỡ là một nguồn dồi dào kali, giúp duy trì huyết áp ổn định, hàm lượng phospho cao có ích cho trí não.
Trên thế giới, cây khoai mỡ được trồng ở 3 vùng chính: Tây Phi, khu vực biển Thái Bình Dương (kể cả Nhật Bản) và các nước trong vùng biển Caribê.