Chương I.Hoạt động công chứng và Chủ thể trong hoạt động công chứng. Chương II. Chủ thể hộ gia đình trong hoạt động công chứng. Chương III.
Thực trạngvà giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng đối với chủ thể hộ gia đình. 4 z CHƢƠNG I HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm, chức năng,nhiệm vụ vàmục đíchhoạt động công chứng 1.1 Khái niệm Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, hoạt động công chứng, chứng thực từ đó có những khởi đầu mới như Nhà nước bổ nhiệm CCV người Việt Nam thay thế cho CCV người Pháp, đồng thời bãi bỏ một số quy định không phù hợp với bản sắc văn hóa người Việt.Bên cạnh đó,Nhà nước ban hành một số quy định sơ khai về hoạt động công chứng, chứng thực. Thời gian đầu, một số việc Thị thực được giao cho UBND thực hiện theo Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 về “ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ” và Nhận thực theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/02/1945 “ban hành thể lệ trước bạ về việc mua bán, cho, đổi nhà cửa ruộng đất”.
Có thể thấy công chứng sơ khai là hoạt động của Nhà nước nhằm hợp pháp hóa văn bản, sự kiện pháp lý.Giai đoạn này Nhà nước chưa phân biệt công chứng và chứng thực, bởi thế thẩm quyền của UBND nói chung được công chứng những việc như: Chứng thực chữ ký, chứng nhận bản sao giấy tờ, tài liệu… Tiếp đến, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987, hướng dẫn công tác công chứng Nhà nước, theo đó khái niệm đầu tiên về công chứng được quy định như sau: “Công chứng Nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng Nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt 5 z Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.[19, tr 1] Theo khái niệm trên, các nhà làm luật không xác định cụ thể chủ thể thực hiện công chứng, nhưng khẳng định công chứng mang tính quyền lực Nhà nước và được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản là “lập và xác nhận” văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý cũng như “hợp pháp hóa” các văn bản và sự kiện, ngăn ngừa vi phạm pháp luật. Ngay sau đó, ngày 15/10/1987, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 858/QLTPK, hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng. Sau bốn năm, Nhà nước ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định 45/HĐBT).Tại Nghị định 45/HĐBT, quan niệm của nhà làm luật về công chứng cũng có những thay đổi nhất định, theo đó: “Công chứng Nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”[27, Điều 1].Tại khái niệm công chứng thứ hai, nhà làm luật vẫn không xác định chủ thể thực hiện công chứngnhưng khẳng định công chứng là việc“chứng nhận tính xác thực” hợp đồng, giấy tờ và “Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”.Chức năng, nhiệm vụvà mục đích, giai đoạn này củacông chứng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Tiếp đến, năm 1996 Nhà nước ban hành Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định 31/CP) sau đó nghị định kể trên đượcBộ Tư pháphướng dẫn bằng Thông tư số 1411/TT-CC ngày 03/10/1996. Giai đoạn này, luật vẫn chưa phân biệt rõ ràng giữa công chứng và chứng thực. Về mục đích, chức năng và nhiệm vụ trong giai đoạn này, Nghị định 31/CP xác định công chứng:“là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội 6 z (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Các hợp đồng và giấy tờ đã được Công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Toà án Nhân dân tuyên bố là vô hiệu”.Có thể thấy khái niệm về công chứng tại Nghị định 45/HĐBT và Nghị định 31/CP không có nhiều khác biệt ngoài việc quy định chủ thể thực hiện công chứng bao gồm “công chứng Nhà nước” và “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”.Bên cạnh đó, Nghị định 31/CP một lần nữa khẳng định giá trị chứng cứ của hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định 75/2000/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01/4/2001,hướng dẫn chung về công chứng, chứng thực(sau đây gọi là Nghị định75).Tại Nghị định 75,một lần nữa nhà làm luật đưa ra khái niệm công chứng, theo đó: “Công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”[25, Điều 2].Như vậy, tại Nghị định 75, lần đầu tiên chủ thể công chứng được khẳng định là PCC; phạm vi công chứng không được đề cập đến trong khái niệm; chức năng, nhiệm vụ và mục đích của công chứng cơ bản vẫn là “chứng nhận tính xác thực” của hợp đồng, giao dịch.
Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Giai đoạn này, nhà làm luật hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực nhằm mục đích tách biệt giữa hoạt động công chứng và chứng thực.Theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007,phạm vi điều chỉnh bao gồm các nội dung sau: - Cấp bản sao từ sổ gốc; - Chứng thực bản sao từ bản chính; - Chứng thực chữ ký cá nhân (bao gồm chứng thực chữ ký của người dịch trong các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng 7 z nước ngoài và chứng thực chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho các giao dịch dân sự). Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống pháp luật nói chung cũng như chế định công chứng nói riêng đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng được yêu cầu của xu hướng hội nhập, khu vực hóa và toàn cầu hóa. Trong bối cảnh này, LCC năm 2006được ban hành thay thế cho Nghị định 75 đã xác định “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” [39, Điều 2].
Như vậy, theo khái niệm LCC năm 2006, chủ thể công chứng được khẳng định là cá nhân CCV. Tại LCC năm 2006,mục đích công chứng hướng đến không chỉ đơn thuần “tính xác thực” mà còn bao gồm cả “tính hợp pháp” của các hợp đồng, giao dịch. Cũng theo LCC năm 2006, phạm vi công chứng được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản là “theo quy định của pháp luật phải công chứng” và “cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu”. Việc thay đổi quan niệm về chủ thể công chứng (từ TCHNCC sang cá nhân CCV) đánh dấu xu hướng chuyển đổi thiết chế công chứng Việt Nam từ mô hình TCHNCCNhà nước sang mô hình TCHNCC tư nhân.
Theo đó, cùng với PCC, Nhà nước cho phép thành lập TCHNCC tư nhân với tên gọi “Văn phòng công chứng” hoạt động theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân (sau này chuyển đổi thành Công ty Hợp danh) được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 2005. Thời gian đầu, luật không buộc VPCC phải có nhiều CCV… quá trình này được gọi là “xã hội hoá” hoạt động công chứng. Sự khác nhau về hình thức tại các TCHNCC hiện nay là: (1) Tư nhân thành lập thì mang tên VPCC (2) Nhà nước thành lập thì mang tên PCC. Ngày 20/6/2014, Quốc hội họp thông qua LCC năm 2014, có hiệu lực ngày 01/01/2015 thay thế cho LCC năm 2006, góp phần hoàn thiện khiếm khuyết của những năm đầu xã hội hóa hoạt động công chứng, mang lại hiệu quả thiết thực đối với xã hội.
Tại LCC năm 2014, nhà làm luật đưa ra khái niệm công chứng như sau: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng 8 z chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Như vậy, theo khái niệm công chứng năm 2006 so với khái niệm công chứng năm 2014,bên cạnh việc xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch thì thẩm quyền của CCV được phép công chứng bản dịch và chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản theo quy định của pháp luật (được quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015, có hiệu lực ngày 10/4/2015, sau đây gọi là Nghị định 23).