Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách thu hút đầu tư vào khu kinh tế e 8 Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định. e 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ VÀO KHU KINH TẾ 1. Khu kinh tế và thu hút đầu tƣ vào Khu kinh tế 1.
Khu kinh tế 1. Khái niệm Khu kinh tế Theo khoản 7, Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP định nghĩa KKT như sau: “Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển KTXH và bảo vệ quốc phòng, an ninh” [11]. Cũng theo Nghị định này, KKT bao gồm KKT ven biển và KKT cửa khẩu. Trong đó, KKT ven biển là KKT hình thành ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển, được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này; KKT cửa khẩu là KKT hình thành ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
Các điều kiện thành lập Khu kinh tế - Đối với KKT ven biển, các điều kiện cần có là [11]: + Phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển KTXH vùng và địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; + Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật; + Có quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của KKT; + Có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy mô lớn, quan trọng và có tác động tới sự phát triển KTXH của cả khu vực; e 10 + Có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến các khu vực xung quanh; + Không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp với bố trí quốc phòng và đảm bảo quốc phòng, an ninh; có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững. - Đối với KKT cửa khẩu, các điều kiện cần có là [11]: + Phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển KTXH cả nước, vùng và địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; + Có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính theo quy định của pháp luật về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền; bao gồm các đơn vị hành chính liền kề, không tách biệt về không gian; + Kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia; giao lưu thuận tiện với các nước láng giềng qua cửa khẩu biên giới đất liền của nước bạn; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật; + Đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của khu kinh tế cửa khẩu bao gồm các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hóa quá cảnh, sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ; có điều kiện phát huy tiềm năng tại chỗ và các vùng xung quanh; có khả năng phát triển thương mại và thu hút đầu tư; + Gắn kết giữa phát triển kinh tế với việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia tại khu vực biên giới; + Không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng xấu và làm tổn hại đến các di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững. Vai trò của Khu kinh tế Sự hình thành và phát triển của các KKT đóng vai trò to lớn trong tiến trình phát triển KTXH, là khu vực quyết định sự tăng trưởng cho nền kinh tế của các địa e 11 phương. Việc hình thành và phát triển các KKT, khu chức năng trong KKT giúp các địa phương huy động được nhiều dự án, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của mình để phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương.
- Góp phần tạo ra giá trị công nghiệp và nhiều giá trị kim ngạch xuất khẩu, nộp ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm, tạo động lực cho việc phát triển nhiều ngành nghề, xây dựng một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng của các địa phương. - Góp phần hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế, đô thị hóa, tạo ra thêm nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ, thu hút lao động nông thôn. - Tạo ra sự phân công lao động theo hướng chuyển lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, hỗ trợ phát triển đối với dịch vụ trong nước thông qua việc đẩy mạnh giao lưu kinh tế với các nước láng giềng; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, kiểm tra giám sát các hoạt động, phát hiện và xử lý các vi phạm. - Đối với an ninh quốc phòng: Việc hình thành các KKT (KKT cửa khẩu) sẽ thu hút dân cư đến làm ăn, sinh sống, tạo thành những khu tập trung dân cư, một số đô thị biên giới góp phần làm tăng thêm tiềm lực kinh tế, quốc phòng tại tuyến biên giới.
Đời sống của nhân dân tại địa bàn các KKT cửa khẩu sẽ được thay đổi tạo thêm lòng tin về chính quyền và về các chính sách của Đảng và Nhà nước. Thu hút đầu tư vào Khu kinh tế 1. Khái niệm thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Quy định tại Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 xác định: Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh. Nhà đầu tư ở đây có thể là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài [25].
Theo quy định về các điều kiện thành lập KKT (nêu trên- tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP), KKT có quy mô lớn, đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn từ cả trong e 12 và ngoài nước. Chính vì vậy mà Chính phủ và chính quyền địa phương (nơi thành lập KKT) cần có những chính sách, hành động nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển KKT, đảm bảo KKT phát triển theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất và chính thức về thu hút đầu tư. Trong các văn pháp luật của Việt Nam còn tồn tại song song nhiều thuật ngữ khác nhau như: “Thu hút đầu tư” được sử dụng trong Luật Đầu tư năm 2014, “khuyến khích đầu tư” thì được sử dụng trong các văn bản pháp luật về thuế.
Tuy nhiên, những quy định về thu hút đầu tư đều được cụ thể hóa bằng những quy định mang tính hiện thực và được xác định rõ trong các văn bản pháp luật để nhà đầu tư xác định rõ, nắm bắt và thực hiện. Có thể thấy rằng, thu hút đầu tư mang tính chất là một sự khẳng định đã được luật hóa, là những cam kết rõ ràng về việc các nhà đầu tư được đối xử một cách ưu đãi khi bỏ vốn vào một hoặc số lĩnh vực, khu vực nhất định. Nhìn chung, chưa có văn bản pháp quy nào đề cập trực tiếp đến khái niệm thu hút đầu tư vào KKT, song dựa trên những khái niệm về KKT, về đầu tư, vốn đầu tư, khuyến khích đầu tư, luận văn thống nhất rằng: Thu hút đầu tư vào khu kinh tế là những hành động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở pháp luật để tác động và kích thích mong muốn đầu tư vào KKT của các nhà đầu tư tiềm năng trong và ngoài nước, theo định hướng đầu tư rõ ràng (ngành, lĩnh vực đầu tư) của cơ quan nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KTT nói riêng, phát triển KTXH của địa phương và cả nước nói chung. Để thu hút đầu tư và KKT, cơ quan nhà nước sử dụng các chính sách phù hợp để hỗ trợ cho các nhà đầu tư, từ đó giảm chi phí đầu tư, giảm khó khăn về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng,.
Các chính sách này phải do Nhà nước quy định và ban hành hoặc từng địa phương phải có những chính sách ưu đãi cụ thể nhưng không được trái với nguyên tắc của pháp luật, không một ưu đãi nào tự các nhà đầu tư tự tạo ra cho mình hoặc các địa phương nhằm tạo điều kiện phát triển KTXH của địa phương mà ban hành các ưu đãi có lợi cho các nhà đầu tư mà làm tổn hại đến mục đích của đầu tư. Những điều kiện để thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhà đầu tư bỏ vốn ra để đầu tư SXKD với mục tiêu hàng đầu cơ bản đều là tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, họ sẽ phải cân nhắc, tính toán, lựa chọn kỹ lưỡng những điều kiện đầu tư để đảm bảo nguồn vốn của họ sinh sôi nảy nở. Theo đó, các địa phương cần phải chú ý cải thiện những điều kiện này.
Cơ bản những điều kiện nêu trên gồm có: - Có sự ổn định về chính trị, hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. - Có chiến lược, kế hoạch, chính sách, cơ chế thích hợp, hấp dẫn, linh hoạt để thu hút vốn đầu tư. - Có những yếu tố vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực và năng lực kinh tế cần thiết để phát triển kinh tế.