Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT 1. Khái niệm thực hiện chính sách quản lý rác thải sinh hoạt 1. Rác thải sinh hoạt và quản lý rác thải sinh hoạt 1. Rác thải sinh hoạt Rác là một phần tất yếu của cuộc sống, xã hội càng phát triển, lượng rác thải ra ngày càng nhiều.
Trong xã hội ngày nay, quá trình đô thị hóa, kết hợp với gia tăng dân số kéo theo lượng rác thải lớn, không có khả năng đồng hóa trong môi trường tự nhiên, trở thành mối đe dọa sự sinh tồn của chúng ta. Chính vì nguy cơ đó, nên nhiều công trình nghiên cứu liên quan đã được triển khai và thuật ngữ: “rác”; “rác thải sinh hoạt” cũng được đề cập, làm rõ. Một số khái niệm phổ biến, như: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003 định nghĩa: Rác thải sinh hoạt là tất cả các loại chất, vật liệu, đồ vật được tạo ra không theo ý muốn từ các hoạt động sống của con người, như ăn, ở, vui chơi, giải trí, các loại vật liệu dùng làm túi bao gói, … [Error! eference source not found. Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 6705-2009 - Chất thải rắn không nguy hại - Phân loại), chất thải sinh hoạt: bao gồm chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, cơ sở kinh doanh thương mại và các cơ quan.
Chất thải rắn sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt sinh ra từ hoạt động hàng ngày của con người. Rác sinh hoạt thải ra ở mọi nơi, mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, trường [12]. Theo quy định pháp luật: Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người [2]. Từ các khái niệm trên cho thấy: Mặc dù, khái niệm về rác thải sinh hoạt được tiếp cận theo các chiều hướng khác nhau nhưng đều thống nhất, đó là: toàn bộ các loại rác thải rắn được con người loại bỏ trong hoạt động sống.
Đây cũng là khái niệm được đề tài vận dụng trong quá trình phân tích. Nguồn phát sinh rác thải Khối lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày càng nhiều do tác động của dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng của người 8 dân ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Trong đó nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt bao gồm: Bảng 1. Nguồn phát sinh của rác thải sinh hoạt Nguồn phát sinh Ví dụ Khu dân cư (các hộ gia đình, Thực phẩm thừa, bìa cacton, nhựa, vải, gỗ, thủy căn hộ chung cư, khu tập thể) tinh, vỏ chai/lon.
Khu thương mại (chợ, nhà Dầu mỡ, lốp xe, vỏ chai, giấy, nhựa, thực phẩm hàng, khách sạn…) thừa, kim loại, chất nguy hiểm… Cơ quan cơ sở (trường học, Giấy, nhựa, đồ dùng văn phòng, kim loại, bìa bệnh viện, công ty…) cacton, gỗ, thủy tinh, đồ điện tử… Khu công cộng (đường phố, Vỏ thực phẩm, chất thải chung tại khu vui chơi, khu vui chơi giải trí, công giải trí. viên…) Công trình xây dựng Gỗ, bê tông, thép, gạch, đất, bụi, thạch cao. Nông nghiệp Thực phẩm thừa bị hỏng, sản phẩm nông nghiệp không được tiêu dùng, chất độc hại Nhà máy xử lý chất thải đô thị Bùn, tro. Công nghiệp (công nghiệp Chất thải do quá trình chế biển công nghiệp, phế nặng, nhẹ…) liệu và rác thải sinh hoạt Nguồn: Đào Duy Anh (2013) Thành phần rác thải sinh hoạt Việc xác định được thành phần rác thải sinh hoạt tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phân loại, thu gom và xử lý rác thải.
Góp phần tiết kiệm được những loại rác thải có thành phần có thể tái chế được, tiết kiệm được thêm chi phí xử lý chúng (Trần Thị Mỹ Diệu, 2007). Rác thải sinh hoạt có thành phần rất đa dạng, khác với rác thải công nghiệp; đó là một hỗn hợp không đồng nhất. Sư không đồng nhất này tạo ra một số đặc tính rất khác biệt trong thành phần của rác thải sinh hoạt, mỗi thành phần khác nhau thì có những tính chất khác nhau. Ta có thể phân tích các thành phần này theo tính chất là rác thải cháy được và không cháy được.
Dưới đây là bảng tổng hợp thành phần rác thải sinh hoạt và định nghĩa của chúng: 9 Bảng 1. Định nghĩa thành phần rác thải sinh hoạt Thành phần Định nghĩa Ví dụ 1. Các chất cháy được a, Giấy Các vật dụng làm từ giấy bột và Túi giấy, giấy vệ sinh b, Hàng dệt giấy Vải, len. c, Thực phẩm Có nguồn gốc từ sợi Cọng rau, vỏ quả.
d, Cỏ, gỗ, củi, Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Bàn ghế, tủ đồ rơm. Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ gỗ, tre, rơm e, Chất dẻo Các vật phẩm và sản phẩm được chế Phim cuộn, túi chất dẻo, tạo từ chất dẻo dây điện f, Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được chế Giày, ví, áo da tạo từ da và cao su 2. Các chất không cháy a, Các kim loại Các vật liệu và sản phẩm được chế Hàng rào, dao. sắt tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút b, Các kim loại Các vật liệu và sản phẩm không bị Vỏ nhôm, đồ đựng.
phi sắt nam châm hút c, Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được chế Chai lọ, bóng đèn. tạo từ thủy tinh d, Đá và Sành sứ Bất kì các loại vật liệu khác không Đá, gốm… cháy khác ngoài kim loại và thủy tinh e, Các chất hỗn Tất cả các loại vật liệu khác không Đất, cát… hợp phân loại trong bảng này. Nguồn: Nguyễn Trung Việt và Trần Thị Mỹ Diệu (2007) Phân loại rác thải sinh hoạt Phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn nhằm tách các loại chất thải nguy hại ra khỏi thành phần chất thải rắn hữu cơ tạo nguồn hữu cơ sạch để sản xuất compost và chế biến phân hữu cơ có chất lượng cao phục vụ cho nông nghiệp và tái sinh năng lượng một cách có hiệu quả từ chất thải rắn hữu cơ. Ngoài ra, phân loại tại nguồn nhằm giảm thiểu khối lượng chất thải lên bãi chôn lấp khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm.
Nhờ đó, các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt… và phân loại chất thải rắn tại nguồn còn để nâng cao hiệu quả của hệ thống tái chế, sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên và năng lượng. Hơn nữa, nâng cao ý thức của tất cả cộng đồng là một trong những mục đích quan trọng của chương trình để thay đổi thói quen và ý thức của cộng đồng trong việc phân loại và thải bỏ chất thải đúng quy định. Phân loại rác thải theo đặc tính tự nhiên Loại Nguồn gốc Ví dụ Rác hữu cơ - Các vật liệu làm từ giấy - Các túi giấy, giấy vệ sinh, bìa,… - Có nguồn gốc từ các sợi - Vải, len, bì tải, bì nilon - Các chất thải từ thực - Thực phẩm dư thừa, ôi thiu: rau, phẩm củ, quả,… - Các vật liệu, sản phẩm - Bàn ghế, đồ chơi, giầy dép, ví,… được chế tạo từ gỗ, tre, cao su, da,. - Các vật liệu và sản phẩm - Túi chất dẻo, chai lọ chất dẻo,… được chế tạo từ chất dẻo.
Rác vô cơ - Các vật liệu và sản phẩm - Vỏ hộp nhôm. Chai lọ, dao, dây được làm từ thủy tinh, điện,… kim loại. - Các vật liệu không cháy - Vỏ trai, gạch, đá, gốm,… ngoài kim loại và thủy tinh. Rác hỗn hợp - Tất cả các loại vật liệu - Đá cuội, cát, đất,… khác không phân loại ở hai mục trên.
Loại này có thể được chia thành 2 loại: kích thước lớn hơn 5mm và kích thước nhỏ hơn 5mm Nguồn: Viện CNMT – viện KH và CNVN (2007) Theo Điều 5, Nghị định 38/2015/NĐ-CP quản lý chất thải và phế liệu ngày 24/04/2015 [2], CTRSH được phân loại tại nguồn phù hợp với mục đích quản lý, xử lý thành 3 nhóm như sau: - Nhóm hữu cơ dễ phân hủy (thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động vật); - Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (giấy, nhựa, kim loại, cao su, ni lông, thủy tinh); - Nhóm còn lại. Ngoài ra, nếu phân chia theo tính chất độc hại của chất thải rắn sinh hoạt thì chia ra làm 2 loại: CTRSH nguy hại bao gồm: Đồ điện, điện tử hư hỏng, nhựa, túi nylon, pin, săm lốp xe, sơn thừa, đèn neon hỏng, bao bì thuốc diệt chuột/muỗi/ruồi, bao bì thuốc bảo vệ thực vật và CTRSH thông thường bao gồm: rác thực phẩm, giấy, vải, da, rác vườn, gỗ, thủy tinh, kim loại, lá cây, rơm rạ, chất thải chăn 11 nuôi…. Với mỗi cách phân loại khác nhau, sẽ có những đặc điểm khác nhau về lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt. Thành phần vật lý, hóa học của chất thải rắn sinh hoạt rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.
Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh; vì vậy, cần nghiên cứu để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Quản lý rác thải sinh hoạt Các nguồn lực thực hiện quản lý đều có giới hạn và phải đáp ứng các điều kiện ràng buộc, nên các tiến trình cần được hoạch định có tính khoa học để không dư thừa, điều khiển để thực hiện đúng, giám sát để phát hiện bất thường, đo lường để biết mức độ hoàn thành được gọi chung là quản lý. Theo Hồ Văn Vĩnh (2013) quản lý là sự tác động có tổ chức, hướng tới đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [7]. Theo Fayol: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [14].
Theo Harold Koontz: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” [15]. Theo Peter F Druker: Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà nằm ở hành động, kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là ở thành tích”. Quản lý được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó.