Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực y tế đóng vai trò then chốt đối với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tại Việt Nam, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nâng cao chất lượng chuyên môn lẫn y đức của đội ngũ y bác sĩ. Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là bệnh viện đa khoa hạng 1 trực thuộc Sở Y tế Hà Nội với quy mô 45 khoa, phòng, phụ trách 7 chuyên khoa đầu ngành. Hằng năm, cơ sở y tế này tiếp nhận khám trên 600.000 lượt người và điều trị nội trú cho hơn 45.000 bệnh nhân, trong đó công suất sử dụng thực tế thường xuyên duy trì trên 800 giường bệnh so với chỉ tiêu kế hoạch là 650 giường.

Đứng trước áp lực quá tải lâm sàng và cơ chế tự chủ tài chính ngày càng sâu rộng, vấn đề thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực y tế tại cơ sở bộc lộ nhiều điểm nghẽn cần giải quyết. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện chu trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn trong giai đoạn 10 năm từ 2009 đến 2019. Trên cơ sở nhận diện rõ thực trạng năng lực, cơ cấu trình độ của 1.064 viên chức và người lao động, luận văn chỉ ra các mặt tích cực, hạn chế trong khâu lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, triển khai và kiểm tra giám sát. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm chuẩn hóa 100% tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học lên trên 15%, đồng thời cải thiện chỉ số hài lòng của người bệnh đạt trên 90%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện, tiêu biểu là tinh thần Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/5/2005 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Luận văn vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công của James Anderson và Thomas Dye, nhìn nhận quá trình thực thi chính sách là một hệ thống khép kín gồm các khâu: xây dựng kế hoạch, tuyên truyền phổ biến, phân công phối hợp, duy trì, điều chỉnh, kiểm tra đôn đốc và đánh giá tổng kết.

Đồng thời, lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công được tích hợp để phân tích các yếu tố tác động đến động lực học tập, nâng cao tay nghề của nhân viên y tế. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm:

  • Nhân lực ngành y tế theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2006, bao gồm toàn bộ lực lượng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
  • Viên chức y tế theo Khoản 3 Điều 3 Thông tư 22/2013/TT-BYT, quy định về công chức, viên chức và người làm chuyên môn nghiệp vụ trong cơ sở y tế.
  • Đào tạo liên tục và bồi dưỡng nghiệp vụ theo quy chuẩn tại Nghị định số 18/2010/NĐ-CP và Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ về Quy chế bệnh viện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong mốc thời gian 10 năm từ 2009 đến 2019, tập trung phân tích chuyên sâu các số liệu giai đoạn 2015 đến 2019. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ tổng thể 1.064 viên chức, người lao động đang làm việc tại 10 phòng chức năng và 35 khoa chuyên môn của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (phương pháp chọn mẫu toàn bộ). Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với 124 cán bộ lãnh đạo quản lý cấp khoa, phòng để khảo sát nhu cầu đào tạo quản lý nhà nước và lý luận chính trị.

Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng chuỗi thời gian kết hợp đối chiếu quy phạm thể chế. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác bức tranh cơ cấu nhân lực (độ tuổi, giới tính, văn bằng chuyên môn), lượng hóa mức độ đáp ứng chỉ tiêu đào tạo hằng năm và đánh giá khách quan mối tương quan giữa chính sách ban hành từ Trung ương với khả năng thực thi thực tế tại một bệnh viện công lập hạng 1.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn có xu hướng trẻ hóa mạnh mẽ nhưng vẫn tồn tại sự mất cân đối về trình độ học vấn. Trong tổng số 1.064 cán bộ, nhân viên (gồm 651 người thuộc biên chế chiếm 61,18% và 413 người hợp đồng lao động chiếm 38,82%), nhân sự nữ chiếm đa số với 742 người (69,73%). Về độ tuổi, nhóm dưới 40 tuổi chiếm tới 70,39% (trong đó độ tuổi từ 30 trở xuống có 320 người, chiếm 30,08%; từ 31 đến 40 tuổi có 429 người, chiếm 40,31%). Về trình độ chuyên môn, tỷ lệ sau đại học đạt 14,92% (gồm 01 Giáo sư, 02 Phó Giáo sư, 24 Tiến sĩ và BSCKII chiếm 2,25%; 132 Thạc sĩ và BSCKI chiếm 12,40%), trình độ đại học đạt 34,50% (372 người), nhưng trình độ trung cấp và sơ cấp vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể là 39,74% (336 trung cấp và 87 sơ cấp).

Thứ hai, công tác đào tạo chuyên môn và chuyển giao kỹ thuật cao được triển khai tích cực theo từng năm. Năm 2015, bệnh viện đã tổ chức đào tạo cho 127 lượt viên chức, trong đó cử đào tạo sau đại học 15 người (02 Tiến sĩ ngoại khoa, 03 BSCKII, 07 Thạc sĩ, 04 BSCKI) và đào tạo 40 điều dưỡng (05 đại học, 35 cao đẳng). Đến năm 2016, tổng số lượt đào tạo nâng lên 135 người, tập trung mạnh vào khối lâm sàng với 09 BSCKII, 05 Thạc sĩ và chuẩn hóa 53 điều dưỡng lên trình độ cao đẳng nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội thành lập năm 2016.

Thứ ba, trình độ bổ trợ về lý luận chính trị, quản lý nhà nước và ngoại ngữ còn phân hóa rõ nét. Tỷ lệ cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp chỉ đạt 0,37% (04 người), trung cấp đạt 11,65% (124 người), sơ cấp chiếm 45,77% (487 người). Về quản lý nhà nước, ngạch chuyên viên chính và tương đương đạt 0,84% (09 người), ngạch chuyên viên đạt 44,77% (487 người). Mặc dù 89,37% cán bộ có chứng chỉ tin học và 70,86% có chứng chỉ ngoại ngữ cơ bản, tỷ lệ viên chức có bằng cử nhân ngoại ngữ chỉ đạt 2,53% (27 người), gây rào cản nhất định trong tiếp cận y văn và hợp tác quốc tế.

Thảo luận kết quả

Thành công trong việc mở rộng quy mô đào tạo chuyên sâu xuất phát từ quyết tâm duy trì vị thế 7 chuyên khoa đầu ngành của bệnh viện (Ngoại, Nhi, Gây mê hồi sức, Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh, Điều dưỡng, Phẫu thuật tạo hình). Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất nằm ở áp lực tự chủ tài chính khi nguồn kinh phí chi cho đào tạo năm 2015 chỉ đạt 577 triệu đồng, chưa đủ bù đắp chi phí cho các khóa học dài hạn ở nước ngoài. Áp lực công việc thực tế với hơn 800 giường bệnh vận hành thường xuyên khiến nhiều bác sĩ khó thu xếp thời gian tham gia các khóa học tập trung.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công bố của Lương Ngọc Khuê (2011) và Đỗ Thị Nhường Trường (2019), cho thấy dù nguồn nhân lực y tế tăng trưởng đều nhưng việc chuẩn hóa trình độ theo Thông tư 22/2013/TT-BYT và Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV vẫn chịu tác động lớn bởi nguồn lực tài chính bệnh viện. Để tăng tính trực quan, các dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu trình độ học vấn của 1.064 nhân viên và biểu đồ cột so sánh biến động số lượt đào tạo chuyên khoa qua các năm 2015 đến 2019.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch và kế hoạch đào tạo theo vị trí việc làm. Ban Giám đốc cùng Phòng Tổ chức cán bộ cần tiến hành rà soát 100% bản mô tả công việc của 45 khoa, phòng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ điều dưỡng có trình độ từ cao đẳng trở lên đạt 100% trước năm 2025, từng bước xóa bỏ hoàn toàn ngạch trung cấp theo đúng định hướng của Bộ Y tế.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn tài chính và xây dựng chính sách đãi ngộ kinh tế. Bệnh viện cần trích lập tối thiểu 3% đến 5% từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hằng năm để hỗ trợ 50% đến 100% học phí cho các viên chức được cử đi học Tiến sĩ, BSCKII hoặc tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật cao; đồng thời ký kết hợp tác quốc tế để tìm kiếm các gói tài trợ đào tạo giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ ba, đổi mới phương thức đào tạo liên tục thông qua nền tảng công nghệ số. Phòng Tổ chức cán bộ phối hợp với Phòng Đào tạo - Chỉ đạo tuyến xây dựng các khóa học trực tuyến (E-learning) kết hợp thực hành lâm sàng cho 951 cán bộ đã có chứng chỉ tin học, giúp cắt giảm 30% thời gian vắng mặt tại vị trí làm việc trong lộ trình 2021 - 2023.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực quản trị bệnh viện và ngoại ngữ chuyên ngành. Sở Y tế Hà Nội và Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cần phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức các lớp bồi dưỡng quản lý y tế hiện đại cho 124 cán bộ chủ chốt (trưởng khoa, điều dưỡng trưởng), đồng thời đặt chỉ tiêu đến năm 2025 có ít nhất 40% bác sĩ sử dụng thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành trong nghiên cứu khoa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Giám đốc và cán bộ quản lý nhân sự tại các bệnh viện công lập: Cung cấp khung phương pháp luận và số liệu thực chứng để xây dựng quy chế đào tạo nội bộ, tối ưu hóa quy trình phân bổ kinh phí đào tạo và giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực kỹ thuật cao.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh, thành phố): Là tài liệu tham khảo giá trị trong việc đánh giá mức độ tương thích của Thông tư 22/2013/TT-BYT và Nghị định 18/2010/NĐ-CP khi đi vào thực tiễn cơ sở, hỗ trợ hoạch định chính sách tự chủ y tế gắn với phát triển nguồn nhân lực.
  • Giảng viên, học viên chuyên ngành Chính sách công và Quản trị bệnh viện: Sử dụng công trình như một case study điển hình về chu trình thực thi chính sách trong lĩnh vực y tế, hỗ trợ đắc lực cho các bài giảng về phân tích chính sách và quản trị nhân sự công.
  • Đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên y tế: Giúp người lao động nắm bắt rõ quyền lợi, nghĩa vụ và các tiêu chuẩn đào tạo liên tục bắt buộc, từ đó chủ động xây dựng lộ trình học tập, phát triển nghề nghiệp phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn có đặc điểm gì nổi bật?
Đội ngũ nhân sự có độ tuổi rất trẻ với 70,39% dưới 40 tuổi và tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế với 69,73%. Trình độ chuyên môn được củng cố vững chắc với 49,42% đạt trình độ từ đại học trở lên (trong đó có 27 cán bộ đạt học hàm, học vị Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, BSCKII), đáp ứng tốt yêu cầu triển khai kỹ thuật cao tại 7 chuyên khoa đầu ngành.

2. Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã thực hiện quy chế đào tạo liên tục như thế nào?
Bệnh viện tuân thủ nghiêm ngặt Thông tư 22/2013/TT-BYT và Quyết định 1895/1997/BYT-QĐ. Hằng năm, đơn vị xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chi tiết, cử từ 120 đến 140 lượt cán bộ tham gia đào tạo sau đại học, tập huấn chuyên môn, đồng thời quy đổi thời lượng nghiên cứu khoa học, viết giáo trình và chỉ đạo tuyến vào số giờ đào tạo liên tục bắt buộc.

3. Đâu là khó khăn lớn nhất trong việc thực thi chính sách đào tạo tại đơn vị?
Rào cản lớn nhất là áp lực phục vụ khám chữa bệnh với hơn 600.000 lượt bệnh nhân mỗi năm trên nền tảng cơ sở hạ tầng 800 giường thực kê. Bên cạnh đó, nguồn kinh phí chi cho đào tạo từ ngân sách tự chủ còn hạn hẹp (khoảng 577 triệu đồng năm 2015), khiến việc cử nhân sự đi học tập trung dài hạn gặp nhiều khó khăn.

4. Kết quả đào tạo về quản lý nhà nước và lý luận chính trị đạt được mức độ nào?
Tính đến năm 2019, bệnh viện đã chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị cho 128 cán bộ ở bậc cao cấp và trung cấp (chiếm 12,02%), bồi dưỡng ngạch chuyên viên và chuyên viên chính quản lý nhà nước cho 496 người (chiếm 45,61%), đảm bảo chuẩn hóa chức danh cho 124 vị trí trưởng khoa, phòng và điều dưỡng trưởng.

5. Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chất lượng khối điều dưỡng?
Luận văn kiến nghị đẩy nhanh tiến độ đào tạo nâng chuẩn cho đội ngũ điều dưỡng từ trung cấp lên cao đẳng và đại học, phấn đấu đạt tỷ lệ 100% trước năm 2025. Bệnh viện cần kết hợp hình thức học trực tuyến lý thuyết với thực hành ca bệnh tại chỗ để không làm gián đoạn công tác chăm sóc bệnh nhân.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về chu trình thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế trong bối cảnh đổi mới ngành y tế.
  • Phân tích thực trạng 1.064 nhân sự tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, chỉ ra lợi thế nguồn nhân lực trẻ (70,39% dưới 40 tuổi) song còn hạn chế về tỷ lệ sau đại học và ngoại ngữ.
  • Đánh giá toàn diện kết quả đào tạo giai đoạn 2015 - 2019 với quy mô từ 127 đến 135 lượt viên chức mỗi năm, phục vụ hiệu quả 7 chuyên khoa mũi nhọn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện bản mô tả vị trí việc làm, trích lập 3% đến 5% quỹ sự nghiệp cho đào tạo, ứng dụng E-learning và chuẩn hóa chức danh quản lý.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách đào tạo liên tục và cơ chế tài chính y tế giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc về thực thi chính sách công tại một bệnh viện hạng 1, làm cầu nối giữa lý thuyết chính sách và thực tiễn lâm sàng. Trong giai đoạn 2020 - 2025, các cơ sở y tế cần khẩn trương số hóa quy trình đào tạo và đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa. Hãy áp dụng ngay các khuyến nghị từ luận văn để xây dựng đội ngũ y tế vừa hồng vừa chuyên, nâng tầm chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.