Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam * Di tích kiến trúc nghệ thuật Khái nịên “di tích” được UNESCO đề cập trong Công ước bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới (1972) “Những đối tượng sau đây sẽ được coi là di tích: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa, các yếu tố hoặc cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học”. Theo Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009, được hợp nhất năm 2013 có quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.2] Theo Điều 28 Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009, được hợp nhất năm 2013 có quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật”[70, tr.10] 12 Như vậy, theo quy định về các tiêu chí trên thì ta có thể hiểu di tích iến trúc nghệ thuật là một bộ phận, là một phần của di tích lịch sử - văn hóa, có giá trị tiêu biểu về iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, liên quan đến iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình hình thành, xây dựng và phát triển đất nước; là nơi ghi dấu những công sức, trí tuệ của con người qua quá trình lao động, sáng tạo. Di tích iến trúc nghệ thuật là tài sản quý giá của nhân loại, của đất nước là những bằng chứng cụ thể, chính xác minh chứng cho một thời ỳ phát triển của lịch sử, chứa đựng các giá trị cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Di tích iến trúc nghệ thuật tồn tại hông chỉ là dấu mốc về thời gian đã qua của dân tộc mà c n là những vết son sáng của nền văn hóa hiện tại thể hiện đỉnh cao giá trị chân - thiện - mỹ qua từng thời ỳ.
Theo cách xếp hạng di tích [70, tr.11-12], thì hiện nay tại Việt Nam có 3 mức độ xếp hạng di tích là: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu cho địa phương; Di tích cấp quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu cho quốc gia; Di tích cấp quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu cho quốc gia. Căn cứ vào các giá trị thực trạng của di tích, nhà nước có các sự xếp hạng khác nhau, từ đó có những cơ chế, chính sách cho phù hợp với nhu cầu của từng loại hình di tích cũng như nhu cầu của xã hội. * Kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam: - Làng Việt Nam: quá trình hình thành và phát triển Trong thời ỳ nguyên thủy, con người sống cuộc sống du canh, du cư nên xóm làng chưa thể ra đời. Vào giai đoạn nghề nông bắt đầu xuất hiện, để thuận tiện cho việc làm nông con người cần sống gần nơi mình làm nông nghiệp, từ đây xóm làng bắt đầu được hình thành, cùng với sự phát triển của nông nghiệp mà cụ thể là nghề trồng lúa nước, là sự phát triển, mở rộng quy mô của xóm làng.
Làng xóm thời ỳ đầu của người Việt còn được gọi với những tên gọi khác nhau như: các ẻ, chạ, chiềng với quan hệ láng giềng theo khu vực và ruộng đất được sở hữu công cộng. “Làng” là đơn vị hành chính cấp thấp nhất trong xã hội. 13 Trong lịch sử phát triển, tồn tại một giai đoạn rất dài ở nước ta, “làng” chủ yếu sản xuất nông nghiệp với cây chủ lực là lúa nước. Khi trình độ sản xuất phát triển, nhu cầu của mỗi người tăng lên thì cầncó công cụ lao động phù hợp ngày càng tăng, mỗi gia đình phải tìm cách tự tạo ra công cụ lao động, dần dần những người có tay nghề cao tách ra hỏi nghề nông để chuyên lo việc sản xuất để cung cấp cho người dân trong làng.
Từ đây hình thành một đội ngũ thợ, nơi trao đổi hàng hoá, phát triển dần lên, xưởng sản xuất và chợ quê cũng ra đời.Từ đó xuất hiện một số làng nghề như: Nghề r n, nghề đúc, nghề dệt vải, nghề thủ công mỹ nghệ. - Đặc điểm Làng cổ Việt Nam: Cổ: Những đối tượng, cổ vật được xem là cổ hi phải đạt được nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố có thời gian tồn tại trên 100 năm [70, tr.2] Làng cổ Việt Nam là một đơn vị tụ cư truyền thống chủ yếu của người nông dân Việt ở nông thôn (một số ít ở thành thị cũng được gọi là Làng), có những đặc điểm nổi bật như: có địa vực, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, phong tục, tập quán, tâm lý, quan niệm, tính cách và cả “hương âm”, "thổ ngữ" tức "giọng làng" riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử. Đặc biệt, để duy trì trật tự, nền nếp, mỗi làng đều có hương ước, được coi như bộ luật của làng; có thời gian tồn tại và phát triển trên 100 năm. Làng cổ Việt Nam đã từng có đặc điểm tự trị, tự quản.
Nhà nước chỉ can thiệp vào làng trong việc lớn, trọng đại như: thu thuế, bắt lính, xử lý những vụ án tranh chấp dân sự làng hông h a giải được, can thiệp hi có dịch bệnh lớn, , c n lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã. Cơ cấu tổ chức làng xưa đơn giản nhưng chặt chẽ, hệ thống tổ chức gồm Hội đồng hương chính và Lý trưởng do dân làng tự bầu, Nhà nước phê chuẩn, nếu vị chức sắc nào thực hiện trách nhiệm ém cỏi hay có sai phạm, dân làng sẽ bầu người hác thay thế. Làng có đội ngũ tuần phiên, có trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự trong làng và ngoài đồng. Do tính chất tự trị, tự quản cao như thế nên người ta đánh giá làng cổ truyền Việt Nam “như một nước cộng h a thu 14 nhỏ”, với những thiết chế chặt chẽ, những quy định bảo đảm “dân chủ làng xã” và cố ết cộng đồng rất cao[27].
Những đặc điểm đó hiến làng xã xưa bình yên, vững vàng trước các yếu tố ngoại lai trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. - Kiến trúc làng cổ Việt Nam : Nhìn về tổng thể, kiến trúc làng cổ Việt Nam, hởi nguồn từ đồng bằng Bắc Bộ có tính liên hoàn cao. Sau luỹ tre xanh là những con đường dẫn vào các thôn xóm. Trong làng có nhiều ngõ nhỏ thông với nhau để người làng đi lối nào cũng có thể về nhà.
Cấu trúc này thuận tiện cho cuộc sống canh tác lúa của người Việt; hình thành các thiết chế xã hội, tổ chức bộ máy quản lý trong mỗi làng. Trải qua nhiều thế hệ, cấu trúc làng cùng những tập quán văn hoá ấy đã tạo ra không gian làng quê yên bình. Kiến trúc nghệ thuật các công trình trong làng cổ, được nhìn nhận, đánh giá thông qua giá trị iến trúc nghệ thuật các thành tố tạo nên diện mạo làng cổ như: Cổng làng, Cây đa đầu làng, Bến nước, Giếng làng, Đình làng, Hương lộ (đường làng), Lũy tre làng, Xóm, Ngõ, Nhà ở, Chùa làng, đền, miếu, Chợ làng, Cổng phụ (cổng sau), các công trình nhà cổ, cánh đồng làng,. Các giá trị iến trúc nghệ thuật này có giá trị tiêu biểu về iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
*Di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam: Di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam: là đơn vị cư trú, một hình thức tổ chức xã hộ của nông thôn Việt Nam, có thời gian tồn tại và phát triển lâu dài (hơn 100 năm); là một bộ phận, là một phần của di tích lịch sử văn hóa có giá trị tiêu biểu về kiến trúc hoặc có các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều giai đoạn lịch sử, liên quan đến quá trình hình thành, xây dựng và phát triển đất nước. Với cách tiếp cận này, có thể thấy di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ trước hết nó phải là một đơn vị cư trú, một hình thức tổ chức xã hội truyền thống của nông thôn Việt Nam, có thời gian tồn tại lâu dài (trên 100 năm), về mặt kiến trúc 15 nghệ thuật phải phản ánh, thể hiện, chứa đựng được phong cách kiến trúc nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử nước ta. Kiến trúc nghệ thuật ở đây có thể được thể hiện ở nhiều hình thức hác nhau như: cấu trúc, quy hoạch của làng cổ mang đậm tính truyền thống đặc trưng cho vùng, miền nông thôn ở Việt Nam; kiến trúc của các công trình đơn lẻ gồm nhà ở dân dụng, các công trình công cộng truyền thống như Đình, Đền, Miếu, Điếm, Quán. Đây là các yếu tố cơ bản để tạo nên kiến trúc, nghệ thuật của một làng cổ Việt Nam, tùy từng vùng, miền, khu vực có các đặc trưng cụ thể khác nhau.
Theo mức độ đặc trưng, số lượng, loại hình các công tình di tích còn bảo tồn được, giá trị của di tích khác nhau, di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ có thể xếp hạng ở các mức độ khác nhau từ cấp tỉnh, quốc gia đến quốc gia đặc biệt. Thực hiện chính sách Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.