phần mở đầu, kết luận, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về xây dựng chiến lƣợc phát triển của doanh nghiệp 3 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích cơ sở để xây dựng chiến lƣợc phát triển giai đoạn 2021 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035 của Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam Chƣơng 4: Đề xuất chiến lƣợc phát triển giai đoạn 2021 – 2025, tầm nhìn đến năm 2035 của Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam và giải pháp thực hiện 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài 1.
Các nghiên cứu về khái niệm chiến lược Trong cuốn sách nổi tiếng “Vom Kriege - Trong cuộc chiến” của Carl Von Clausewitz (1832), ông đã đã định nghĩa chiến lƣợc nhƣ là một cách thức để đánh trận và kết thúc cuộc chiến. Cuối thế kỷ 19, với sự phát triển khá phức tạp của xã hội, quan niệm về chiến lƣợc đƣợc mở rộng và bắt đầu đƣợc sử dụng trong quản lý và chính sách quốc gia. Đến thế kỷ 20, các thuật ngữ “Chiến lƣợc chính” (grand strategy) và “Chiến lƣợc đƣợc ƣu tiên” (higher strategy) đƣợc đề cập đến nhƣ một nghệ thuật sử dụng các nguồn tài nguyên cho sự phát triển và để đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể của quốc gia. Porter (1980), trong tác phẩm “Chiến lƣợc cạnh tranh” xuất bản năm 1980, đã chỉ ra phƣơng pháp định nghĩa lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tƣơng đối và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo và phân chia lợi nhuận.
Đặc biệt ông đã giới thiệu ba chiến lƣợc cạnh tranh phổ quát là: chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, chính điều đó đã biến định vị chiến lƣợc trở thành một hoạt động có cấu trúc. Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh (competitive advantage), Porter đã bổ sung cho tác phẩm tiên phong “Chiến lƣợc cạnh tranh” nói trên. Trong cuốn sách này, Michael E. Porter đã nghiên cứu và khám phá những cơ sở cốt lõi của lợi thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp (DN).
Lợi thế cạnh tranh biến chiến lƣợc từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu trúc nhất quán của những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tƣ tƣởng kinh doanh quốc tế hiện nay. Cấu trúc đó cung cấp những công cụ hữu hiệu để hiểu đƣợc ảnh hƣởng của chi phí và vị thế tƣơng đối về chi phí của công ty. Chuỗi giá trị của Porter giúp các nhà quản lý phân biệt đƣợc những nguồn lực tiềm ẩn của giá trị khách hàng (buyer value). Đó là điều 5 có thể giúp chúng ta đƣa ra một mức giá cao, và đó cũng là lý do tại sao sản phẩm hay dịch vụ này lại có thể thay thế cho sản phẩm, dịch vụ khác.
Theo Johnson và Scholes (2000), trong “Chiến lƣợc cạnh tranh của một tổ chức” thì trong một tổ chức hay một DN: “Chiến lƣợc là việc định hƣớng và xác định phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành đƣợc lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trƣờng nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trƣờng và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. Các nghiên cứu về vai trò của chiến lược Joel Ross & Michael Kami (2014), trong bài viết “Thiếu vắng một chiến lƣợc, một tổ chức giống nhƣ một con thuyền không có bánh lái” thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển quản trị, đã đề cập đến vai trò của chiến lƣợc phát triển đối với một tổ chức và đặc biệt là đối với một DN. Theo đó, các DN hiện nay đang cạnh tranh trong một môi trƣờng toàn cầu hóa đầy biến động đòi hỏi phải có một chiến lƣợc phát triển phù hợp để khai thác một cách có hiệu quả những cơ hội và xử lý thỏa đáng với những thách thức đang đặt ra để bảo đảm đạt tới hiệu quả cao và sự phát triển bền vững. DN cần phải trả lời đƣợc các câu hỏi: Những cơ hội nào nên đƣợc theo đuổi? Những lĩnh vực mới nào nên đƣợc đầu tƣ, phát triển? Làm gì để có thể tận dụng và khai thác có hiệu quả những nguồn lực hiện có của DN? Làm gì để DN có thể phát triển đƣợc những năng lực cạnh tranh bền vững trong các lĩnh vực hoạt động của mình và tạo ra sự cộng hƣởng trong sự phát triển của toàn bộ tổ chức? 1.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước 1. Các nghiên cứu liên quan đến khái niệm, vai trò, phân loại chiến lược a. Các nghiên cứu về khái niệm chiến lược Thứ nhất, GS.TS Phan Huy Đƣờng trong cuốn sách “Quản lý công” do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2014, Tái bản: 2016) khi nghiên cứu về quản lý chiến lƣợc trong một tổ chức đã xác định các bộ phận quan trọng nhất cấu thành một chiến lƣợc gồm: Thứ nhất là hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lƣợc; Thứ hai là hệ thống mục tiêu chiến lƣợc; Thứ ba là hệ thống các giải pháp chiến lƣợc. Theo đó: 6 Hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lƣợc là việc xác định các quan điểm chủ đạo có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra bƣớc ngoặt của con đƣờng phát triển.
Các quan điểm này vừa có ý nghĩa chỉ đạo xây dựng chiến lƣợc, vừa là tƣ tƣởng và “linh hồn” của chiến lƣợc mà trong từng phần nội dung của chiến lƣợc phải thể hiện và quán triệt. Hệ thống quan điểm thể hiện những nét khái quát đặc trƣng nhất và có tính nguyên tắc về mô hình phát triển của tổ chức. Hệ thống mục tiêu chiến lƣợc là các mục tiêu gắn liền với việc giải quyết các vấn đề cơ bản của tổ chức, những mốc mới mà tổ chức cần phải đạt tới trên con đƣờng phát triển. Những mục tiêu tổng quát bao trùm của chiến lƣợc phải chứa đựng nhiều mục tiêu cụ thể.
Hệ thống các giải pháp chiến lƣợc là việc thể hiện sự hƣớng dẫn về cách thức thực hiện các mục tiêu đề ra, chúng bao gồm các chính sách và biện pháp về cơ cấu và cơ chế vận hành của tổ chức, các giải pháp về khai thác huy động bổ sung và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triền. Các giải pháp chính là sự thể hiện tính đột phá của chiến lƣợc. Thứ hai, PGS.TS Lê Thế Giới (2012), trong “Giới thiệu về quản trị chiến lƣợc và tuyên bố sứ mệnh” Nhà xuất bản Đại học Đà Nẵng, đã có sự so sánh giữa chiến lƣợc trong lĩnh vực quân sự và lĩnh vực kinh tế. Theo đó: Trong quân sự, chiến lƣợc dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lƣợng để đè bẹp đối phƣơng và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục.
Luận điểm cơ bản của chiến lƣợc là một bên đối phƣơng có thể đè bẹp đối thủ - thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn - nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đƣa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình. Trong bối cảnh cạnh tranh, thuật ngữ “trận địa” của chiến lƣợc quân sự, có thể hiểu nhƣ là môi trƣờng trong đó diễn ra hoạt động cạnh tranh. Chiến lƣợc của một tổ chức, cũng tƣơng tự nhƣ chiến lƣợc quân sự ở chỗ nó hƣớng đến việc đạt đƣợc sự phù hợp giữa các năng lực tạo sự khác biệt và môi trƣờng bên ngoài mà tổ chức tham gia cạnh tranh. Tuy nhiên, so với chiến lƣợc quân sự, chiến luợc trong lĩnh vực kinh doanh phức tạp hơn.
Sự cạnh tranh trong 7 kinh doanh không phải lúc nào cũng gây ra kết cục có kẻ thắng ngƣời thua giống nhƣ các xung đột quân sự. Sự ganh đua trong ngành đôi khi có cơ hội để họ cải thiện các sức mạnh và kỹ năng của mình nhƣ những mầm mống cạnh tranh. Giá trị của các năng lực tạo sự khác biệt đem đến lợi thế cạnh tranh cho tổ chức có thể giảm theo thời gian bởi sự thay đổi môi trƣờng. Các nghiên cứu về vai trò của chiến lược Thứ nhất, PGS.TS Ngô Kim Thanh (2012) trong “Quản trị chiến lƣợc” (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực cho các DN nhỏ và vừa) đã nhấn mạnh vai trò của chiến lƣợc phát triển đối với doanh nghiệp: Chiến lƣợc đóng vai trò định hƣớng hoạt động trong dài hạn của DN và là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp.
Chiến lƣợc giúp cho DN nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thƣơng trƣờng. Chiến lƣợc góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cƣờng vị thế của DN đảm bảo cho DN phát triển bền vững. Chiến lƣợc phát triển của tổ chức sẽ tạo ra các căn cứ vững chắc cho việc đề ra cách quyết định phù hợp với sự biến động của thị trƣờng. Thứ hai, theo các giáo trình của các trƣờng đại học kinh tế nƣớc ta nhƣ: Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng.
đều cho rằng: Chiến lƣợc đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi DN. Trong thực tế có rất nhiều công ty nhờ có chiến lƣợc phát triển đúng đắn mà đạt đƣợc nhiều thành công, vƣợt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên thƣơng trƣờng. Chiến lƣợc giúp DN linh hoạt và chủ động để thích ứng với những biến động của thị trƣờng, đồng thời còn đảm bảo cho DN hoạt động và phát triển theo đúng hƣớng. Chiến lƣợc giúp DN nắm bắt đƣợc các cơ hội cũng nhƣ các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của DN, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của DN.
8 Chiến lƣợc tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho DN, giúp DN liên kết đƣợc các cá nhân với các lợi ích khác cùng hƣớng tới một mục đích phát triển DN. Chiến lƣợc là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của DN. Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hƣởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các DN. Chính quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DN trên thị trƣờng.