Chương I. Cơ sở lý luận chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chương II. Cơ sở đề xuất Chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần Sứ Cosani. Chương III.
Đề xuất chiến lược kinh doanh và các giải pháp thực hiện chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần Sứ Cosani đến năm 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và phân loại chiến lƣợc kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh Kenneth Andrews có thể được coi là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng về chiến lược trong kinh doanh trong cuốn sách kinh điển The Concept of Corporate Strategy (1986, 3rd Ed. Theo ông, chiến lược là những gì mà một doanh nghiệp phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa.
Michael Porter (1987) lại cho rằng: bản chất của chiến lược kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành. Vậy ta có thể thấy rằng, chiến lược kinh doanh là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lên một trạng thái cao hơn về chất. Có thể hiểu chiến lược kinh doanh là một chương trình hành động tổng quát mà doanh nghiệp vạch ra nhằm đạt được các mục tiêu trong một thời kỳ nhất định.
Trong kinh doanh, chiến lược thường thể hiện các nội dung: (1). Ngành kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tham gia: khái niệm ngành có thể được hiểu như ngành vật liệu xây dựng, ngành dệt may, ngành viễn thông,. Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp: đó là thị trường của Cosani, toàn quốc, một khu vực thị trường xác định hay một phân khúc khách hàng cụ thể. Sản phẩm: Ví dụ như xí bệt, chậu rửa,.
Các giá trị: những điểm tạo ra sự khác biệt và thu hút khách hàng, thể hiện sự cam kết của công ty,. Điều quan trọng là chiến lược kinh doanh không phải là một kế hoạch theo nghĩa nghiêm ngặt của từ này. Chiến lược kinh doanh không cụ thể đến từng chi 7 z tiết mà nó mang tính định hướng nhiều hơn. Nó là những định hướng một cách bài bản cho những bước đi của doanh nghiệp từ hiện tại hướng tới tương lai.
Các định hướng này giúp doanh nghiệp định hình được con đường đi của mình, từng bước tích lũy các nguồn lực, phân bổ và sử dụng một cách tập trung các nguồn lực đó theo cách tối ưu nhất. Định hướng đó cũng dẫn dắt và cổ vũ đội ngũ cán bộ công nhân viên đi theo con đường mà doanh nghiệp đã chọn. Để hiểu rõ khái niệm về chiến lược kinh doanh cần thấy rõ các đặc trưng của nó, bao gồm: - Tính định hướng dài hạn: chiến lược kinh doanh đặt ra những mục tiêu và xác định hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ dài hạn, ví dụ như 3 năm, 5 năm, 10 năm, nhằm định hướng hoạt động cho doanh nghiệp trong một môi trường kinh doanh đầy biến động. - Tính mục tiêu: chiến lược kinh doanh xác định rõ mục tiêu cơ bản, những phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và những chính sách nhằm thực hiện đúng mục tiêu đã đề ra.
- Tính phù hợp: chiến lược kinh doanh cần được xây dụng trên cơ sở doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời phải thường xuyên rà soát và điều chỉnh để phù hợp với những biến đổi của môi trường kinh doanh. - Tính liên tục: chiến lược kinh doanh phải được phản ánh trong suốt quá trình liên tục từ khâu xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá đến điều chỉnh chiến lược. - Tính cạnh tranh: chiến lược kinh doanh trong điều kiện ngày nay không thể nào tách rời khỏi cạnh tranh vì chiến lược kinh doanh một phần đảm bảo cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trên thị trường, một phần chịu tác động qua lại giữa các doanh nghiệp trong ngành cũng như giữa các ngành khác nhau trong nền kinh tế.2 Phân loại chiến lược kinh doanh Tùy tiêu thức phân loại người ta có thể chia chiến lược kinh doanh thành nhiều loại: Căn cứ phạm vi chiến lược, người ta chia chiến lược kinh doanh thành hai loại: 8 z a. Chiến lược tổng quát: đề cập đến những mục tiêu chung, những vấn đề trọng tâm có ý nghĩa lâu dài quyết định sự sống còn của doanh nghiệp.
Chiến lược bộ phận: đây là chiến lược cấp hai. Thông thường trong doanh nghiệp, loại chiến lược này bao gồm: chiến lược giá cả, chiến lược sản phẩm, và chiến lược phân phối cho từng giai đoạn ngắn hạn hay trung hạn của chiến lược tổng quát. Căn cứ vào sự kết hợp giữa sản phẩm và thị trường có thể chia chiến lược thành bốn loại: a. Chiến lược tăng trưởng tập trung: chiến lược này chủ yếu nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp với những sản phẩm hiện có trên cơ sở tăng cường hoạt động marketing hoặc thay đổi chiến lược thị trường hiện có mà không thay đổi sản phẩm nào.
Loại này có ba chiến lược chính: chiến lược thâm nhập thị trường; chiến lược phát triển thị trường; chiến lược phát triển sản phẩm. Chiến lược phát triển hội nhập: chiến lược này nhằm tới mục tiêu là kiểm soát các nhà phân phối, nhà cung cấp hoặc các đối thủ cạnh tranh, bao gồm: hội nhập về phía trước; hội nhập về phía sau; hội nhập theo chiều ngang. Chiến lược đa dạng hóa: chiến lược này thường được sử dụng trong các công ty đa ngành, chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược cấp công ty. Nhóm chiến lược này tương đối uyển chuyển và linh hoạt, tuy nhiên đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng về vật chất, tài chính và khả năng quản trị phù hợp.
Nhóm chiến lược này bao gồm: chiến lược đa dạng hóa đồng tâm; chiến lược đa dạng hóa hàng ngang; chiến lược đa dạng hóa tổng hợp. Chiến lược suy giảm: chiến lược này được sử dụng khi công ty cần sự chỉnh đốn sau những ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế hay cần phải củng cố nhằm tránh sự suy thoái toàn diện của công ty, bao gồm các chiến lược chính sau: thu hẹp hoạt động; cắt bỏ hoạt động; thanh lý. Căn cứ vào cấp đơn vị kinh doanh có thể chia chiến lược thành bốn loại: a. Các chiến lược cạnh tranh theo M.Porter - Chi phí dẫn đầu nhờ chi phí thấp: là chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh nhờ chi phí thấp, sử dụng chi phí thấp để định giá dưới mức giá của các đối thủ 9 z cạnh tranh nhằm thu hút số đông khách hàng nhạy cảm với giá cả để gia tăng lợi nhuận.
- Chiến lược khác biệt hóa: là chiến lược tạo ra sản phẩm, dịch vụ và các chương trình marketing khác biệt rõ rệt so với đối thủ cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng. - Chiến lược hỗn hợp: kết hợp chi phí thấp hợp lý với khác biệt hóa. Các chiến lược cạnh tranh dành cho các đơn vị kinh doanh theo vị trí thị phần trên thị trường: Trong quá trình kinh doanh, mỗi đơn vị chiếm một vị trí khác nhau trên thị trường, do đó, mỗi đơn vị có chiến lược riêng phù hợp với vị trí của mình. - Chiến lược dành cho các đơn vị kinh doanh dẫn đầu thị trường: trong mỗi ngành kinh doanh đều có đơn vị kinh doanh được xem là dẫn đầu thị trường, đơn vị này có thị phần lớn nhất và dẫn đầu các đối thủ cạnh tranh.
Để giữ vững vị trí dẫn đầu này, thì đơn vị phải có chiến lược riêng, chủ yếu là các chiến lược: chiến lược mở rộng tổng nhu cầu thị trường; chiến lược bảo vệ thị phần. Các chiến lược cạnh tranh dành cho các đơn vị kinh doanh thách thức thị trường: thường sử dụng cho các đơn vị đứng thứ hai, ba, bốn… trên thị trường nhưng có tiềm lực mạnh có thể tấn công đơn vị dẫn đầu và các đơn vị khác để gia tăng thị phần. Để thực hiện cần phải xác định mục tiêu, đối thủ cạnh tranh và lựa chọn chiến lược tấn công thích hợp, có thể là các chiến lược như tấn công phía trước, tấn công bên sườn, tấn công đường vòng… d. Các chiến lược dành cho các đơn vị theo sau thị trường: đó là các đơn vị yếu không đủ sức để đương đầu với các đơn vị mạnh, do đó tìm cách né tránh đi sau các đơn vị mạnh.
Các chiến lược có thể lựa chọn như: mô phỏng hoàn toàn, tức là bắt chước hoàn toàn các đơn vị mạnh; mô phỏng một phần, tức là bắt chước một phần và mô phỏng có cải tiến, tức là bắt chước có cải tiến cho phù hợp với mình. Vai trò của Chiến lƣợc kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp muốn thành công phải có chiến lược, chiến lược có tác dụng cụ thể đến các chức năng cơ bản của kinh doanh là: 10 z - Cung cấp cho doanh nghiệp một phương hướng kinh doanh cụ thể, có hiệu quả, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động chức năng của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng cường sức mạnh cho doanh nghiệp phát triển thêm thị phần. - Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được những bất trắc, rủi ro đến mức thấp nhất và nắm bắt, tận dụng cơ hội kinh doanh kịp thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh ổn định lâu dài và phát triển không ngừng. - Chiến lược giúp các doanh nghiệp tổ chức phân bổ nguồn lực có hiệu quả nhất.
- Chiến lược là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể và đo lường những kết quả đó. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có vị trí quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Quy trình xây dựng chiến lƣợc kinh doanh 1. Xác định sứ mệnh và mục tiêu chiến lược của tổ chức Xác định sứ mệnh của tổ chức Trong kinh doanh hiện đại, mỗi công ty cần xác định được sứ mệnh cho mình vì công ty nào cũng có một sứ mệnh riêng, sứ mệnh đó có thể thay đổi trong quá trình hoạt động của công ty.
Để có thể đưa ra được sứ mệnh đúng đắn, trước hết cần tìm hiểu sứ mệnh của công ty là gì. Cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sứ mệnh công ty.