CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm và các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Ngân hàng đầu tiên xuất hiện khá sớm vào thế kỷ thứ XV (năm 1401) tại Tây Ban Nha, có tên gọi là Ban–Ca–Di Barcelona. Trải qua hàng trăm năm, đến nay hoạt động của các NHTM đã trở thành một yếu tố không thể thiếu và gắn liền với nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới. Ngân hàng là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
Với vai trò đó ngân hàng không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào. Do đó, mỗi nước có cái nhìn nhận và xây dựng khung pháp lý, giới hạn hoạt động, mô hình tổ chức ngân hàng cho phù hợp với sự phát triển của mỗi quốc gia. Thông thường người ta phải dựa vào tính chất, mục đích, đối tượng hoạt động của nó trên thị trường tài chính.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển, NHTM được các tổ chức tín dụng của các nước trên thế giới đưa ra các nhận định khác nhau để diễn đạt về hoạt động của các NHTM. Sau đây là một số định nghĩa khác nhau về NHTM: 6 - Mỹ: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
- Pháp: Ngân hàng được coi là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới nhiều hình thức ký thác hay hình thức khác, số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính (luật ngân hàng 1941). - Đan Mạch lại định nghĩa: “ Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và hành nghề địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm, Tại Việt Nam: Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010 có ghi: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [8, trang 2]. Trong đó:“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: (i) nhận tiền gửi, (ii) cấp tín dụng, (iii) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [8, trang 3].2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế, cơ sở nền sản xuất lưu thông hàng hóa, nền kinh tế ngày càng phát triển càng cần đến hoạt động của các NHTM. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn nhưng ngân hàng vẫn duy trì các hoạt động cơ bản như sau: 7 Thứ nhất: Hoạt động huy động vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như: huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá hay vay trên thị trường liên ngân hàng…Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế của địa phương và cả nước. Trong đó các nguồn vốn trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Vốn ngắn hạn đáp ứng tốt nhu cầu vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ hai: Hoạt động sử dụng vốn Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả tạo lợi nhuận cho ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Ngân hàng thường sử dụng vốn để thực hiện các hoạt động như: - Cho vay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống kê, nhìn chung thì khoảng 60% - 70% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay.
Thành công hay thất bại của một ngân hàng tùy thuộc vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ kế hoạch cho vay cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Cách thức cho vay có thể theo nhiều hình thức khác nhau, chúng có thể được phân loại theo mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn vay, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả… - Hoạt động đầu tư của ngân hàng Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu cầu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực tiền 8 tệ cung cấp đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư.
Có hai hình thức chủ yếu mà các NHTM có thể tiến hành là: Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán, ngoại tệ,…hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác. Đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Nghiệp vụ ngân quỹ Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng của các chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình ngân hàng không thể bỏ qua sự “an toàn”.
Vì vậy ngoài việc cho vay và đầu tư để thu lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do trung ương đề ra. Thứ ba: Các hoạt động khác Là trung gian tài chính nên ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.
Mặt khác các NHTM còn tiến hành môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ… Các hoạt động trên của ngân hàng nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh gay gắt như 9 thị trường hiện nay. Tất cả các hoạt động của NHTM đều có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau. Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động.
Các hoạt động trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.2 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại a. Vốn tự có (vốn chủ sở hữu) Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có của NHTM bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của NHTM theo quy định của NHNN. Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong kết cấu tổng nguồn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.
Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó là cơ sở để mở rộng quy mô hoạt động quyết định đến năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, theo đà phát triển của ngân hàng vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối. Quy mô vốn tự có là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng, đồng thời với chức năng bảo vệ, vốn tự có tham gia duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Nếu xem xét vốn theo cách nhìn tĩnh tại, số dư vốn tự có được sử dụng để bù đắp rủi ro trong cho vay và đầu tư của ngân hàng. Theo kinh nghiệm nếu tỷ lệ vốn tự có so với tài sản có bằng 5%, thì tài sản có không được phép sụt giảm trên 5% về mặt giá trị trước khi ngân hàng này chính thức mất khả năng thanh toán.
Vốn tự có cung cấp sự đảm bảo đối với khách hàng gửi tiền và những chủ nợ khác về khả năng tiếp tục tồn tại và phát triển của 10 ngân hàng trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt. Đồng thời, vốn tự có sẽ bù đắp các khoản lỗ cho đến khi thu nhập phát sinh và được giữ lại để tạo thành vốn bổ sung. Vốn tự có còn có vai trò quyết định mức cho vay tối đa với một khách hàng và mức cho vay tối đa với một nhóm khách hàng liên quan theo quy định của NHNN. Căn cứ vào hệ số vốn tự có so với tài sản có rủi ro chuyển đổi, có thể đánh giá và giám sát khả năng chi trả của ngân hàng (hệ số CAR), theo thông lệ quốc tế hệ số CAR phải đạt tối thiểu là 8%.