CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Câu hỏi đích thực (câu nghi vấn) 1. Khái niệm Câu hỏi đích thực thường được gọi với nhiều tên khác nhau như: câu hỏi, câu nghi vấn, câu hỏi đích danh, câu hỏi dùng theo lối trực tiếp. Theo Bùi Đức Tịnh, câu hỏi đích thực dùng “để tỏ ý muốn biết một vật gì hay một điều gì” [80, 154].
Còn theo Nguyễn Kim Thản, “câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói và nói chung đòi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng” [70, 254]. Cao Xuân Hạo không định nghĩa trực tiếp về câu hỏi đích thực mà cho rằng nó là câu “có dấu hiệu riêng về tình thái hỏi” [35, 224]. Đồng thời, tác giả cũng dựa vào dấu hiệu hình thức chuyên dùng để chia thành 6 tiểu loại câu nghi vấn tương ứng với 6 hiệu lực ở lời khác nhau. Diệp Quang Ban lại cho rằng “câu nghi vấn thường dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó; về mặt hình thức câu nghi vấn cũng có những dấu hiệu đặc trưng nhất định” [4,247].
Trong đó, điều chưa biết gợi mở những ý hàm ẩn, còn sự chờ đợi sẽ lôi kéo người đọc vào cuộc giao tiếp. Ngoài ra, tác giả cũng phân biệt câu nghi vấn với câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến theo tiêu chí về chức năng thông báo. Tổng hợp các quan niệm trên, có thể thấy, các tác giả đều thống nhất về đặc trưng của câu hỏi đích thực (câu nghi vấn) là: - Về nội dung: câu hỏi đích thực dùng để nêu lên điều chưa biết và mong muốn nhận được sự giải thích hoặc trả lời. - Về hình thức: câu hỏi đích thực có những dấu hiệu chuyên dùng.
Từ các đặc điểm riêng, câu nghi vấn đã được phân biệt với câu trần thuật về dấu hiệu hình thức và phân biệt với câu cầu khiến, câu cảm thán ở tính đối thoại. Mỗi câu nghi vấn được dùng đều mang sẵn trong mình tính có lí do, tức là sự tồn tại của nó gắn liền với các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp 10 ngữ cảnh, thông điệp, phương thức truyền tin,… Theo Searle, điều kiện sử dụng hành vi hỏi phải đảm bảo 4 yêu cầu sau: (i) Điều kiện nội dung mệnh đề: tất cả các mệnh đề hay hàm mệnh đề; (ii) Điều kiện chuẩn bị: người hỏi không biết chính xác lời giải đáp; (iii) Điều kiện chân thành: người hỏi tự đặt giả thuyết rằng người được hỏi biết câu trả lời; (iv) Điều kiện căn bản: người hỏi cố gắng nhận được thông tin từ người được hỏi [dẫn theo 10, 119]. Bốn điều kiện sử dụng mà Searle chỉ ra chính là cơ sở để nhận biết một phát ngôn mang hình thức hỏi có phải là câu hỏi đích thực hay không. Phân loại câu hỏi (câu nghi vấn) 1.
Câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp Câu hỏi được sử dụng để thực hiện hành động hỏi với tư cách là hành động ngôn ngữ trực tiếp được chúng tôi quy ước diễn đạt gọn là câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp. Đó là kiểu câu hỏi chính danh thực hiện hành động đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng của nó. Như vậy, câu hỏi trực tiếp là loại câu hỏi nhằm mục đích nêu lên điều không biết hoặc sự hoài nghi của người nói (người phát) và đòi hỏi người nghe (người nhận) phải trả lời. Nó được sử dụng để thực hiện các hành động ngôn ngữ trực tiếp.
Loại câu hỏi sử dụng theo lối trực tiếp có mặt nhiều trong giao tiếp ngôn ngữ thường nhật, nhưng cũng xuất hiện ít nhiều trong thơ ca nghệ thuật. Xét ngữ cảnh của câu hỏi dùng theo lối trực tiếp trong thơ thì có thể thấy rằng, thường sau câu hỏi trực tiếp là câu trả lời,ví dụ: Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi ? - Hai mươi - Ờ nhỉ tháng năm trôi. Câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp Câu hỏi được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ “hỏi” gián tiếp được chúng tôi diễn đạt vắn tắt là câu hỏi dùng theo lối hành động ngôn ngữ 11 gián tiếp là loại câu hỏi có dấu hiệu hình thức hỏi nhưng lại nhằm tới đích ở lời của hành vi khác, tức là sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp. Câu hỏi gián tiếp tạo nên tính mơ hồ về nghĩa cho lời nói (đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca).
Để nhận ra nghĩa đích thực của câu hỏi gián tiếp, người nghe, người đọc phải dựa vào ngữ cảnh, thao tác suy ý và các quy tắc ngữ dụng học. Thông thường, các câu hỏi sử dụng theo lối gián tiếp khi đi vào thơ ca, ngôn ngữ nghệ thuật sẽ trở thành câu hỏi tu từ vì chúng đều là những câu hỏi nhằm để khẳng định ý kiến của người nói, ví dụ: Ngẫm duyên kì ngộ xưa nay Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương? (Truyện Kiều - Nguyễn Du) 1. Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi (câu nghi vấn) Câu hỏi trong tiếng Việt thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sau: 1. Câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn Theo Diệp Quang Ban, “câu nghi vấn dùng đại từ nghi vấn được dùng để hỏi vào những điểm xác định trong câu, điểm hỏi là điểm chứa các đại từ nghi vấn.
Do đó, ngay cả khi câu bị tách ra khỏi ngữ cảnh, điểm hỏi trong câu vẫn xác định, nếu câu được dùng để hỏi” [4, 213]. Tức là điểm hỏi có sẵn trong câu và không cần phụ thuộc vào ngữ cảnh để nhận biết nó. Có các kiểu đại từ nghi vấn trong câu hỏi như sau: - Hỏi về người, vật, việc: ai, gì, nào. - Hỏi về số lượng và thứ tự: bao nhiêu, mấy.
- Hỏi về thời gian: bao giờ, bao lâu, khi nào, chừng nào. - Hỏi về không gian: (ở) đâu, chỗ nào, hướng nào, phía nào, đằng nào. - Hỏi về tính chất và cách thức: như thế nào, thế nào, sao. - Hỏi về nguyên nhân: vì sao, tại sao, sao, do đâu, bởi đâu, vì cái gì.
- Hỏi về điều kiện và mục đích: với điều kiện gì/nào, trong điều kiện gì/nào, để làm gì, nhằm mục đích gì, vì mục đích gì. Câu hỏi sử dụng phó từ nghi vấn Để tạo ra câu hỏi, tiếng Việt sử dụng các cặp phó từ làm thành các khuôn nghi vấn sau: - Hỏi về tính khẳng định/tính phủ định: có… không (hoặc có không); có phải. - Hỏi về sự xảy ra/không còn xảy ra: đã… chưa. - Hỏi về tính hoàn thành/không hoàn thành: …xong (rồi)… chưa; …xong chưa (chưa).
Câu hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn Quan hệ từ hay là quan hệ từ bình đẳng, nó được sử dụng trong câu nghi vấn để hỏi có hạn chế trong khả năng trả lời bằng cách sử dụng một trong những đề nghị đã được người hỏi đưa ra. Vì vậy, loại câu hỏi này cũng được gọi là câu nghi vấn lựa chọn. Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng, nếu không có các phương tiện tạo tính nghi vấn khác đi kèm thì điểm hỏi trong câu sẽ rất mơ hồ khi tách ra khỏi ngữ cảnh. Vì vậy, kiểu câu này là câu nghi vấn không rõ trọng điểm.
Các tiểu từ chuyên dụng được dùng trong câu nghi vấn như: à, ư, ạ, ạ, hả, hử, hở, chứ, chớ, nhỉ,… Chúng thường kèm theo cả nghĩa tình thái, tức là những sắc thái tình cảm tế nhị, ví dụ: Bác lấy cái bút này à? (trung hòa) Bác lấy cái bút này ư? (ngạc nhiên) Bác lấy cái bút này ạ? (kính trọng) Bác lấy cái bút này hả? (thân hữu hoặc suồng sã) Bởi vậy, các tiểu từ nghi vấn thường được dùng trong thơ ca để biểu đạt cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình. Khi không có các phương tiện đánh dấu khác để phân biệt, thì ngữ điệu đặc thù cho câu hỏi là một ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi. Tiêu điểm hỏi 13 Tiêu điểm hỏi là điểm nhấn mà người hỏi muốn nhận được thông tin từ người nghe. Cùng một nội dung và hình thức, nhưng tiêu điểm hỏi trong một phát ngôn/diễn ngôn có thể khác nhau.
Khi người nghe không nhận ra được tiêu điểm hỏi, sẽ dẫn đến mơ hồ về nghĩa và có nhiều câu trả lời khác nhau cho một câu hỏi. Do vậy, ngữ cảnh và ngữ điệu của phát ngôn là căn cứ để người nghe nhận ra tiêu điểm hỏi, ví dụ: Ngữ cảnh 1: - Hôm trước bạn đi chơi với Lan à? - Không, mình ở nhà mà! Ngữ cảnh 2: - Hôm trước bạn đi chơi với Lan à? - Bạn nói gì lạ thế, tớ đi chơi với em gái mà! Ngữ cảnh 3: - Hôm trước anh đi chơi với Lan à? - Tôi làm gì có bạn gái mà đi chơi! Ba ngữ cảnh trên đều cùng một câu hỏi, nhưng câu trả lời lại theo ba hướng khác nhau do người nghe không nắm rõ được tiêu điểm hỏi. Trong câu hỏi tu từ, khi nhận ra được tiêu điểm hỏi, sẽ dễ dàng nhận ra được tính tình thái trong câu hỏi đó. Tình thái hỏi Tình thái là thái độ, tình cảm của người hỏi được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu.
Theo Noam Chomsky, các kiểu câu được phân biệt theo tính tình thái. Tình thái tường thuật, cầu khiến hay nghi vấn đều là tình thái bắt buộc và nó sẽ tạo ra các kiểu câu tương ứng [dẫn theo 56]. Tình thái bắt buộc là yếu tố xác định kiểu câu. Ngoài tình thái bắt buộc, còn có thể có một tình thái khác, được gọi là tình thái tuỳ nghi.
Đó là các yếu tố thể hiện sự thừa nhận, phủ nhận, chủ động, bị động, nhấn mạnh,. Trong câu hay phát ngôn, các phương tiện ngữ âm, từ vựng, hoặc ngữ pháp thường đảm nhiệm ý nghĩa tình thái. Phương tiện ngữ âm biểu đạt ý nghĩa tình thái được thể hiện qua ngữ điệu, sự nhấn mạnh vào tiêu điểm mà người nói cần chú ý để thể hiện thái độ tình cảm, hoặc yêu cầu của mình. 14 Phương tiện từ vựng biểu đạt ý nghĩa tình thái được thể hiện qua các động từ tình thái (muốn, tưởng, định, dám,.); phó từ (đã, sẽ, đang, vẫn, cứ,.); tiểu từ tình thái (à, ừ, nhỉ, a, thế, ạ,.); trợ từ (ngay, chính, cả,.); thán từ (ôi, ối chà, chao ôi); và một số từ, tổ hợp từ chuyên dùng với ý nghĩa tình thái xuất hiện trên bậc câu (có lẽ, có thể, chắc chắn,.
Phương tiện ngữ pháp biểu đạt ý nghĩa tình thái được biểu hiện ở cách đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu nhằm thể hiện ý định của người nói qua điểm cần nhấn trong phát ngôn.