Đặt vấn đề nghiên cứu Thuật ngữ quản trị công ty ngày càng được nhắc đến nhiều hơn trong các nghiên cứu gần đây. Điều này xuất phát từ thực tế là nền kinh tế ngày càng cạnh tranh và phát triển theo hướng chuyên nghiệp hơn. Dễ nhận thấy rằng, không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ khả năng điều hành và thúc đẩy công ty phát triển trong một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt. Do đó, các công ty cần đến những nhà quản lý chuyên nghiệp để giúp các nhà đầu tư gia tăng tài sản của mình.
Khi quyền sở hữu và quyền điều hành được tách biệt, mâu thuẫn về quyền lợi có thể phát sinh giữa người chủ sở hữu và người quản lý (Jensen và Meckling, 1976).Trong điều kiện như vậy, cơ chế quản trị doanh nghiệp bên trong và cơ chế quản trị doanh nghiệp bên ngoài đóng vai trò quan trọng để giảm thiểu các mâu thuẫn (Darmadi, 2011).Hội đồng quản trị là cơ chế quản trị bên trong, đại diện cho sự kết nối giữa nhà đầu tư và nhà quản lý điều hành (Fama và Jensen, 1983). Trong khi đặc điểm hội đồng quản trị và thành phần hội đồng quản trị đã thu hút sự chú ý đáng kể từ các nhà kinh tế thì thù lao chi trả cho hội đồng quản trị đã không được quan tâm đúng mức (Võ Hồng Đức và ctg, 2013). Một trong những lý do giải thích cho sự thiếu vắng các nghiên cứu về thù lao hội đồng quản trị (so với rất nhiều các nghiên cứu về lương giám đốc điều hành) là, trong khi các giám đốc điều hành có đóng góp và quyết định quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả và giá trị của công ty, vai trò của hội đồng quản trị chỉ như một người theo dõi công ty (tầm quan trọng bị giảm sút), ngoại trừ trong các tình huống nghiêm trọng khi cần đến sự can thiệp của hội đồng quản trị. Hơn nữa, các thành viên hội đồng quản trị đóng vai trò như người theo dõi hành vi của ban giám đốc công ty, đồng thời cũng là người đại diện của cổ đông.
Do c 2 đó, tồn tại khả năng không cân bằng về lợi ích giữa các thành viên hội đồng quản trị và cổ đông được biết đến như “Vấn đề người đại diện” (Jensen, 1993). Mặc dù cổ đông rất muốn kiểm soát hội đồng quản trị, song họ không có đủ thông tin và sự hiểu biết cần thiết để làm được điều này. Do đó, cổ đông có thể nghĩ đến việc gắn kết thù lao của các thành viên hội đồng quản trị vào thu nhập của cổ đông với lập luận rằng, khi thù lao phụ thuộc vào giá trị thị trường của cổ phiếu (hoặc tỷ suất lợi nhuận), hội đồng quản trị có thể có động lực cố gắng làm việc để cải thiện giá trị (hiệu quả) công ty (Kubo, 2001). Vì vậy, các thoả thuận ưu đãi cần thiết phải đáp ứng được lợi ích cá nhân thích đáng và hợp lý cho các thành viên hội đồng quản trị và giám đốc điều hành (Kumar và Sivaramakrishnan, 2008).
Đã có bằng chứng gần đây cho thấy rằng các thành viên hội đồng quản trị ngày càng được trả lương theo cách thức để giảm thiểu vấn đề người đại diện (Ertugrul và Hegde, 2008). Trong điều kiện của Việt Nam cho đến hiện nay, do một vài hạn chế trong việc tiếp cận các dữ liệu, vẫn chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này. Điều này thực sự là một thiệt thòi cho các nhà đầu tư, các cổ đông, các nhà quản trị và điều hành của các công ty tại Việt Nam. Như vậy, trên thực tế các nghiên cứu vẫn chưa đáp ứng nhu cầu hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng và mức độ các tác động đến thù lao hội đồng quản trị.
Nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin và bằng chứng khoa học cho nhu cầu hiểu biết của các đối tượng có liên quan bằng cách phân tích toàn diện các yếu tố quyết định mức thù lao trả cho hội đồng quản trị. Dựa trên quan điểm người đại diện và bằng chứng từ các nghiên cứu nước ngoài gần đây của Andreas và ctg. (2010) và Darmadi (2011), các yếu tố có khả năng tác động đến thù lao hội đồng quản trị về cơ bản được chia thành hai nhóm sau: (i) đặc điểm công ty và (ii) đặc điểm hội đồng quản trị. Về mặt lý thuyết, các yếu tố quyết định sẽ được xem xét dựa trên lý thuyết người đại diện và các nghiên cứu trước để đưa ra các giả thuyết nghiên cứu.
Thế nhưng, thực tế tại các công ty Việt Nam, thù lao thành viên hội đồng quản c 3 trị liệu có được xây dựng để giảm bớt khả năng không cân bằng lợi ích giữa thành viên hội đồng quản trị và cổ đông hay không, hay còn chịu sự tác động bởi những yếu tố khác quan trọng hơn. Nghiên cứu này đưa ra lời giải đáp cho mối quan tâm chưa được làm rõ này. Mục tiêu nghiên cứu Hội đồng quản trị đóng vai trò cốt lõi trong việc định hướng phát triển công ty, và cũng là sợi dây liên kết giữa người sở hữu công ty và người điều hành công ty. Mặc dù có vai trò quan trọng nhưng thực tế cho đến nay có rất ít các nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố tác động đến thù lao hội đồng quản trị.
Vì vậy, nghiên cứu thực hiện khảo sát số liệu thực tế các công ty tại Việt Nam để tìm hiểu rõ hơn vấn đề này, đồng thời giúp cho người sở hữu và hội đồng quản trị đạt được lợi ích và những mục tiêu tốt nhất đã đề ra cho bản thân và cho công ty. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định hai nhóm yếu tố (i) đặc điểm công ty và (ii) đặc điểm hội đồng quản trị có khả năng tác động đến mức thù lao của hội đồng quản trị như thế nào. Nghiên cứu sử dụng số liệu thực tế thu thập từ các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam để kiểm nghiệm mức độ tác động của các yếu tố đến thù lao hội đồng quản trị nhằm xác định rõ đâu là các yếu tố có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến thù lao hội đồng quản trị. Câu hỏi nghiên cứu Vấn đề thù lao hội đồng quản trị ngày càng thu hút sự quan tâm của các công ty, giới đầu tư (cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư mới) và chính các thành viên hoặc sẽ là các thành viên trong hội đồng quản trị các công ty.
Để làm rõ vấn đề, nghiên cứu này tiến hành xem xét các lý thuyết và phân tích thực nghiệm nhằm đưa ra các kết luận để trả lời cho câu hỏi: - Các đặc điểm nào của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến thù lao hội đồng quản trị? c 4 - Những đặc điểm nào của hội đồng quản trị có tác động đáng kể đến thù lao hội đồng quản trị? 1. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát giới hạn trong phạm vi các công ty phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Khảo sát loại bỏ các công ty thuộc lĩnh vực tài chính ra khỏi phạm vi nghiên cứu vì các công ty hoạt động trong lĩnh vực này có những đặc thù riêng. Do đó, việc bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực này trong nghiên cứu có khả năng phá vỡ kết cấu chung và cung cấp những kết quả không mang tính thuyết phục cao.
Các công ty niêm yết trên HOSE và HNX được lựa chọn vì các công ty này thoả mãn những quy định khắt khe hơn về vốn điều lệ, rủi ro kinh doanh, sự giám sát từ bên ngoài và công bố thông tin so với các công ty chưa niêm yết hoặc niêm yết trên sàn giao dịch Upcom. Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ sở giao dịch chứng khoán TPHCM và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2014. Nghiên cứu chọn giai đoạn này vì số lượng các công ty niêm yết tăng lên đáng kể đủ đảm bảo cho việc chọn mẫu có tính đại diện cao hơn. Đối tượng muốn hướng đến trong nghiên cứu này là thù lao hội đồng quản trị của các công ty và các yếu tố có liên quan như đặc điểm công ty và đặc điểm hội đồng quản trị.
Phương pháp nghiên cứu Quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê định lượng với mô hình hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model), ảnh hưởng cố định (FEM – Fixed Effects Model) và mô hình hiệu chỉnh tổng quát (GLS – Generalized Least Squares) ước lượng kết quả nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành lần lượt theo các bước sau: Bước 1: Xác định các cơ sở dữ liệu có liên quan ( dữ liệu tài chính và phi tài chính của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Việt Nam), tìm c 5 kiếm các nghiên cứu trước và các tạp chí học thuật có liên quan tới thù lao hội đồng quản trị, đặc điểm công ty, đặc điểm hội đồng quản trị. Sau khi có kết quả tìm kiếm, tiếp tục thực hiện tìm kiếm lặp lại để tập hợp thêm nhiều nguồn dữ liệu. Bước 2: Xác định các nghiên cứu có liên quan nếu đáp ứng hai tiêu chí: (i) nghiên cứu có biến thù lao hội đồng quản trị là biến phụ thuộc (loại bỏ các nghiên cứu lý thuyết chỉ đơn thuần là mô tả hoặc nghiên cứu chỉ xem xét thù lao hội đồng quản trị là một biến giải thích); (ii) nghiên cứu đã được công bố trên một tạp chí chuyên ngành.
Tiêu chí (ii) được đưa vào để đảm bảo chất lượng của việc tham khảo. Bước 3: Tiến hành khảo sát các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác định các yếu tố quyết định được sử dụng trong các mô hình thực nghiệm. Phân loại các yếu tố này thành hai nhóm các yếu tố ảnh hưởng từ các nghiên cứu thu thập được. Hai nhóm này bao gồm (i) đặc điểm công ty và (ii) đặc điểm hội đồng quản trị.
Bước 4: Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Bước 5: Sử dụng các phương pháp ước lượng mô hình hồi quy thích hợp và kiểm soát các khuyết tật (thực hiện bằng phần mềm Stata 12) để cho ra các kết quả và xem xét các kết quả này. Bước 6: Sử dụng các kết quả thực nghiệm làm cơ sở để giải thích các mối quan hệ thông qua việc chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết đã đưa ra.