CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 1. Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Trước tiên, để hiểu được khái niệm bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp chúng ta cần phải tìm hiểu một số khái niệm liên quan như: đất nông nghiệp, THĐ nông nghiệp. Theo FAO (Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc) thì đất nông nghiệp được hiểu bao gồm các thành phần sau đây: Đất canh tác như đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (Đất hoang hóa, đất thoái hóa); đất vườn cây ăn trái và những vườn nho hay cánh đồng nho (Thông dụng ở châu Âu); đất trồng cây lâu năm; cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc.
Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp được chia thành đất có tưới tiêu và không tưới tiêu (Thường xuyên). Ở các nước đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp thường được giới hạn trong phạm vi đất tưới tiêu. Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó ngoài cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp, chẳng hạn như rừng, núi, và các vùng nước nội địa. Đất nông nghiệp bao gồm 38% diện tích đất của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích đất của thế giới) [46].
Quan niệm đất nông nghiệp của Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc được hiểu theo nghĩa hẹp. Theo đó, đất nông nghiệp là những loại đất được sử dụng để chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất ra lương thưc, thực phẩm cho con người. Theo định nghĩa của Từ điển luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) thì: “Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là TLSX chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công 5 nghiệp và dịch vụ” [43, tr. Dưới góc độ pháp lý, trải qua các giai đoạn khác nhau đất nông nghiệp được pháp luật quy định khác nhau.
Theo quy định tại Luật Đất đai 1993 thì giai đoạn này chúng ta có sáu loại đất. Đó là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng. Theo quy định tại LĐĐ 1993 thì đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Như vậy, giai đoạn này đất lâm nghiệp được tách ra khỏi đất nông nghiệp.
Theo quy định tại Điều 13 LĐĐ 2003 thì căn cứ vào mục đích sử dụng đất đai được phân loại thành nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Theo đó, đất nông nghiệp gồm các loại sau đây: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. Như vậy, bằng cách liệt kê các loại đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thành nhóm đất nông nghiệp, LĐĐ 2003 đã có cái nhìn khái quát hơn về đất nông nghiệp. Kế thừa những quy định của LĐĐ 2003, LĐĐ 2013 cũng căn cứ vào mục đích sử dụng vào mục đích nông nghiệp để liệt kê một số loại đất vào nhóm đất nông nghiệp.
Trên thực tế, người nông dân vừa có thể là người nông dân, vừa là ngư dân, vừa là diêm dân vì họ đồng thời sở hữu các loại đất khác nhau. Việc quy định các loại đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thành nhóm đất nông nghiệp là hoàn toàn hợp lý. Quy định này phù hợp với nhu cầu sở hữu đất đai của người nông dân, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất trong quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước, giúp cho các cơ quan quản lý đất đai ở địa phương thuận lợi trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình khai thác sử dụng đất của người sử dụng đất. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về đất nông nghiệp như sau: 6 Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là TLSX chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái.
Khái niệm thứ hai chúng ta cần tìm hiểu là THĐ nông nghiệp. Nếu như giao đất, cho thuê đất làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai thì THĐ là căn cứ làm chấm dứt quan hệ pháp luật về đất đai. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, THĐ được hiểu là: Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định của pháp luật về đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm, trường hợp thật cần thiết Nhà nước THĐ đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng [36]. Khái niệm này mặc dù đã liệt kê đầy đủ các trường hợp THĐ như THĐ do vi phạm pháp luật đất đai, THĐ sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Tuy nhiên, khái niệm niệm này vẫn chưa đưa ra một định nghĩa rõ ràng về THĐ. Dưới góc độ pháp lý LĐĐ 1987 và LĐĐ 1993 chỉ liệt kê các trường hợp THĐ chứ không đưa ra khái niệm về THĐ. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 LĐĐ năm 2003 thì THĐ là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này. Khái niệm này chỉ đề cập đến hai chủ thể đó là tổ chức và UBND xã, phường, thị trấn và đã bỏ qua hai chủ thể phổ biến khi bị THĐ đó là hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất.
Dựa trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước tuy là chủ sở hữu toàn bộ đất đai nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng toàn bộ đất đai mà chuyển giao từng thửa đất cho người sử dụng đất để trực tiếp sử dụng. Việc chuyển giao này được thực hiện thông qua các hình thức phân phối đất đai theo quy định của pháp luật. Mỗi một giai đoạn kinh tế - xã hội nhất định, Nhà nước có thể điều chỉnh về mục đích, về chủ thể sử 7 dụng đất để đảm bảo đất đai được sử dụng có hiệu quả nhất, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội thông qua hoạt động điều phối đất đai.
THĐ là một trong những hoạt động điều phối đất đai của cơ quan Nhà nước. LĐĐ 2013 quy định: Nhà nước THĐ là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Như vậy, bằng quyết định hành chính Nhà nước có thể giao đất, cho thuê đất thì bằng quyết định hành chính Nhà nước cũng có thể THĐ. Với những nghiên cứu trên có thể rút ra khái niệm THĐ như sau: THĐ là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Như vậy, THĐ nông nghiệp là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia; lợi ích công cộng…Sở dĩ, Nhà nước THĐ nông nghiệp là vì: Thứ nhất, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [11, tr. Theo đó, để trở thành một nước công nghiệp thì nước ta phải tiến hành công cuộc CNH – HĐH đất nước. Tiến trình này đòi hỏi một diện tích lớn đất để phát triển cơ sở hạ tầng và phục vụ cho ngành công nghiệp.
Vì vậy, việc THĐ nông nghiệp tất yếu phải diễn ra. Thứ hai, cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách nhanh chóng như hiện nay thì đô thị hóa là một quá trình tất yếu. Quá trình này làm cho đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng bị thu hẹp lại. Bởi vì quỹ đất thì hữu hạn, việc tăng loại đất này đồng nghĩa phải giảm loại đất khác.
Thứ ba, việc THĐ nông nghiệp do nhu cầu chuyển mục đích đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nhằm mục đích sử dụng đất hiệu quả hơn. Trên thực tế, có những mảnh đất bị hoang hóa, không có khả năng để canh tác nông nghiệp như đất bị nhiễm phèn, không có khả năng tưới tiêu…cần được thu hồi để chuyển sang mục 8 đích khác để nâng cao hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất, đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Đối với huyện Bắc Trà My, để phục vụ nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng tại địa phương như xây dựng Trung tâm hành chính huyện, Chợ Bắc Trà My, làm đường, trường học… và phát triển đô thị để mở rộng thị trấn mà trong nhiều năm qua nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi. Trong pháp luật tài sản, pháp luật đất đai luôn có vị trí quan trọng.
Vì đất đai là tài sản vật chất và tinh thần quý báu của quốc gia, nước ta lại “đất chật người đông”, đất đai càng được sử dụng có hiệu quả [18, tr. Đặc biệt, đất nông nghiệp là TLSX chủ yếu của người nông dân. Vì vậy, việc THĐ không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và cuộc sống của người nông dân mà còn ảnh hưởng đến an ninh lương thực của quốc gia.