Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ XĂNG DẦU 1. Cán bộ quản lý xăng dầu và hoạt động bồi dưỡng cán bộ quản lí xăng dầu 1. Khái niệm Con người làm việc trong bất kỳ tổ chức nào cũng có thể chia thành hai loại: những người quản lý và những người thừa hành. Theo nghĩa riêng: cán bộ quản lý là những người làm việc trong bộ máy, là người thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao.
Theo nghĩa hẹp: cán bộ quản lý là những người có thẩm quyền ra quyết định dù được phân quyền hay uỷ quyền Trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn những người quản lý đều được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau: cán bộ quản lý, nhà quản lý, cán bộ quản trị kinh doanh, nhà quản trị, người phụ trách.Họ khác những người thừa hành ở chỗ họ phải chịu trách nhiệm về công việc của những người khác. Trong định nghĩa trên có 4 yếu tố cấu thành rất quan trọng: Một là, “Chức vụ” là cái tên chỉ một vị trí công tác trong bộ máy quản lý. Thí dụ “trưởng phòng nhân sự” hay “giám đốc”. Hai là, “Quyền hạn” đó là quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ tác động của cán bộ quản lý, đó là quyền lực được giới hạn về không gian và thời gian.
Ba là, “Trách nhiệm” đó là “phần việc được giao cho phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. 15 e Trách nhiệm của một cán bộ quản lý không chỉ là nghĩa vụ thực hiện những công việc thuộc chức năng của mình mà còn phải chịu trách nhiệm đối với những hành động của cấp dưới. Bốn là, “Quyền lợi” đó là “quyền được hưởng những lợi ích nào đó về vật chất, tinh thần, chính trị, xã hội. Bốn yếu tố chức vụ, quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ quản lý phải gắn bó chặt chẽ và có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau: Chức vụ cao thì quyền hạn rộng, trách nhiệm nặng nề và quyền lợi lớn.
Mọi sự không tương xứng giữa các yếu tố trên đều dẫn đến kết quả không tốt cho quá trình quản lý. Tóm lại, cán bộ quản lý là những người phụ trách và đưa ra quyết định và được xác định bởi ba yếu tố: - Có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định. - Có chức năng thể hiện những công việc cần thực hiện trong toàn bộ hoạt động của tổ chức. - Có nghiệp vụ thể hiện phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc.
Phân loại cán bộ quản lý * Theo cấp quản lý. - Cán bộ quản lý cấp cao: là những người chịu trách nhiệm ra những chiến lược quyết định hoặc có những ảnh hưởng lớn tới các quyết định chiến lược, đề ra các chính sách chỉ đạo quan hệ giữa tổ chức và môi trường. Đây là những người chịu trách nhiệm toàn diện đối với hoạt động của tổ chức. - Cán bộ quản lý cấp trung: là người điều hành việc thực hiện ra quyết định, các chính sách đưa ra bởi cấp cao.
Thiết lập mối quan hệ giữa người đòi hỏi của nhà quản lý với năng lực của nhân viên. Họ thường là những người phụ trách các phân hệ, các bộ phận trong tổ chức. 16 e - Cán bộ quản lý cấp thấp: là những người chịu trách nhiệm về công việc của các nhân viên là những người lao động trực tiếp. Chỉ đạo, điều hành, giám sát hoạt động của người lao động.
* Theo phạm vi quản lý. - Cán bộ quản lý tổng hợp: là người phụ trách tổng hợp, xây dựng các kế hoạch, báo cáo thường xuyên, định kỳ trong phạm vi quản lý - Cán bộ quản lý địa bàn: là những người được phân công về công tác quản lý của các đơn vị trực thuộc. * Theo tính chất của lao động - Cán bộ lãnh đạo chỉ huy là những người giữ cương vị chỉ huy trong điều hành công việc của tổ chức, đơn vị. Đây là bộ phận quan trọng nhất, quyết định tính hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý.
- Cán bộ chuyên trách: là những người có trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng nghiên cứu. Họ là những người tư vấn cho lãnh đạo, đồng thời cũng là những nhà chuyên môn thực thi những công việc đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn phức tạp. - Cán bộ thực thi, thực hành công vụ nhân danh quyền lực. Họ là những người mà bản thân họ không có thẩm quyền ra quyết định mà là những người thừa hành công việc, thực thi công việc.
Đây là lực lượng đông đảo trong hệ thống và là cán bộ quản lý cấp cơ sở. - Nhân viên là những người thực hành nhiệm vụ do cá cán bộ lãnh đạo giao phó. Họ là những người làm công tác phục vụ, bản thân họ có những trình độ chuyên môn kỹ thật ở mức thấp nên chỉ tuân thủ sự hướng dẫn của cấp trên. Quan niệm về cán bộ quản lý xăng dầu Xăng dầu là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn ở nước ta, vì vậy cán bộ quản lý xăng dầu là cá nhân thực hiện chức năng quản lý nhất định 17 e trong bộ máy quản lý ở một lĩnh vực, họ cũng là người lao động nhưng khác những người trực tiếp hoạt động sản xuất - kinh doanh ở chỗ lao động mà họ thực hiện là lao động quản lý - một thứ lao động sản xuất đặc biệt, nó không nằm ngoài mà nằm trong quá trình sản xuất vật chất, tạo ra giá trị mang lại lợi ích cho từng cơ quan, đơn vị.
Do đó, quản lý xăng dầu là một nghề có chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác nói đến cán bộ là nói đến con người và người cán bộ phải được đặt trong mối quan hệ xác định: quan hệ với đường lối, nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ nhất định; quan hệ với bộ máy và cơ chế chính sách; quan hệ với thực tiễn hoạt động. Cho đến nay Đảng và Nhà nước, cũng như Bộ Công an chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn các cán bộ quản lý xăng dầu. Tuy vậy, trong phạm vi vận dụng những nguyên tắc về quản lý cán bộ của Đảng cũng như yêu cầu đối với cán bộ, chiến sỹ công tác trong ngành Công an nhân dân, yêu cầu và nhiệm vụ của cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ quản lý xăng dầu đó là: - Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với đơn vị. - Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và 18 e tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức mọi người thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. - Gương mẫu về đạo đức, lối sống.
Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết nội bộ. - Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý. Đã học tập có hệ thống ở các trường của Đảng, Nhà nước và Công an nhân dân; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả. - Có tư duy độc lập, sáng tạo.
Có ý thức hợp tác, say mê trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ. Bồi dưỡng và hoạt động bồi dưỡng 1. Bồi dưỡng Bồi dưỡng là quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, nâng cao năng lực hoặc phẩm chất nói chung trên cơ sở của những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó. Trong hoạt động bồi dưỡng cán bộ, công chức, bồi dưỡng nhằm cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng, thái độ thực thi nhiệm vụ, công vụ; giúp cho người cán bộ, công chức ngày càng hoàn thành công việc được giao có chất lượng, hiệu quả hơn.
Trong thực tế hiện nay khái niệm “Đào tạo, bồi dưỡng”CBCC lại đang được hiểu chung là “bồi dưỡng”. Đã có rất nhiều ý kiến trong các cuộc họp, hội thảo khoa học về lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức yêu cầu tách biệt các thành tố “đào tạo” và “bồi dưỡng” khi sử dụng khái niệm “đào tạo, bồi dưỡng”. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, khái niệm này đã trở thành một bộ phận của vốn từ vựng tiếng Việt, được sử 19 e dụng rộng rãi trong giao tiếp và trong văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các tài liệu nghiên cứu ở nước ta, tuy nhiên cách tiếp cận này cũng theo nhiều chiều khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005: “Đào tạo: Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng: Làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm” [27].
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức, tại Điều 5 giải thích: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” và “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[ 16]. Do vậy có thể hiểu khái niệm “đào tạo, bồi dưỡng” (cán bộ, công chức) là quá trình làm cho cán bộ, công chức có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định và liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng thái độ thực thi nhiệm vụ, công vụ được giao. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một khâu của công tác nhân sự, có điểm khác biệt so với loại hình đào tạo khác.