Luận văn thạc sĩ: Biện pháp lựa chọn việc làm thêm theo định hướng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Thể chất - ĐHSP Thái Nguyên

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về biện pháp lựa chọn việc làm thêm theo định hướng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục thể chất, Trường Đại học Sư phạm, Đại

Chuyên ngành

Giáo dục thể chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lựa chọn việc làm thêm cho sinh viên GDTC

Việc làm thêm là hoạt động lao động phát sinh ngoài giờ học chính khóa, giúp sinh viên có thu nhập trang trải chi phí và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Đối với sinh viên ngành Giáo dục Thể chất (GDTC), việc làm thêm mang ý nghĩa đặc biệt vì gắn liền với chuyên môn thể thao, huấn luyện và chăm sóc sức khỏe. Theo nghiên cứu của Lê Hoàng Anh (2020) tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, sinh viên GDTC thường lựa chọn các công việc part-time như huấn luyện viên thể hình, trọng tài phong trào, hướng dẫn viên thể thao hoặc các công việc phổ thông khác. Thị trường việc làm thêm tại thành phố Thái Nguyên trong bán kính 10km quanh trường khá đa dạng, tạo nhiều cơ hội cho sinh viên. Tuy nhiên, nhiều sinh viên chưa biết cách lựa chọn việc làm phù hợp với định hướng nghề nghiệp. Việc phân loại việc làm thêm theo tiêu chí thời gian, tính chất công việc và mức độ liên quan đến chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định.

1.1. Khái niệm việc làm thêm theo pháp luật lao động

Việc làm thêm được hiểu là hoạt động lao động mà người lao động thực hiện ngoài thời gian làm việc chính, nhằm mục đích kiếm thêm thu nhập hoặc tích lũy kinh nghiệm. Theo pháp luật lao động Việt Nam, việc làm được phân thành nhiều loại: việc làm trọn ngày (full-time) và việc làm không trọn ngày (part-time), việc làm tự nguyện và việc làm cưỡng bức, việc làm chân tay và việc làm trí óc. Đối với sinh viên, hình thức part-time phổ biến hơn cả vì phù hợp với lịch học. Việc làm thêm có thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chuyên ngành đào tạo. Việc hiểu rõ khái niệm và phân loại giúp sinh viên đánh giá đúng tính chất công việc trước khi quyết định nhận việc.

1.2. Vai trò của việc làm thêm đối với sinh viên GDTC

Việc làm thêm mang lại nhiều giá trị thiết thực cho sinh viên ngành GDTC trên nhiều bình diện. Về kinh tế, sinh viên có thu nhập trang trải học phí và sinh hoạt, giảm gánh nặng cho gia đình. Về chuyên môn, các công việc liên quan đến thể thao giúp rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế. Về phát triển cá nhân, sinh viên hình thành kỹ năng giao tiếp, quản lý thời gian và tinh thần trách nhiệm. Theo nghiên cứu tại Đại học Thái Nguyên, sinh viên GDTC làm thêm đúng chuyên môn thường có kết quả học tập tốt hơn và dễ dàng hòa nhập thị trường lao động sau tốt nghiệp. Việc làm thêm còn giúp mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội trong ngành thể thao.

II. Phân tích thực trạng lựa chọn việc làm thêm của sinh viên GDTC

Thực tế tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên cho thấy sinh viên ngành GDTC gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn việc làm thêm phù hợp. Phần lớn sinh viên tìm việc qua mối quan hệ cá nhân hoặc mạng xã hội mà thiếu sự tư vấn chuyên môn từ nhà trường. Nhiều em chấp nhận các công việc phổ thông như phục vụ quán ăn, bán hàng mà không tận dụng được thế mạnh chuyên ngành. Thị trường việc làm thêm tại Thái Nguyên chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành, các trung tâm thể thao, phòng tập gym và trường học. Tuy nhiên, thông tin về cơ hội việc làm chưa được kết nối hiệu quả giữa nhà tuyển dụng và sinh viên. Tâm lý lo lắng về việc cân bằng giữa học tập và lao động cũng là rào cản lớn. Đặc điểm tâm lý của sinh viên giai đoạn đại học cho thấy các em đang trong quá trình hình thành bản sắc nghề nghiệp, cần được định hướng đúng đắn để tránh lãng phí thời gian và công sức.

2.1. Những thuận lợi và khó khăn khi sinh viên GDTC đi làm thêm

Sinh viên ngành GDTC có nhiều thuận lợi khi tìm việc làm thêm. Nhu cầu xã hội về huấn luyện viên thể hình, hướng dẫn viên yoga, trọng tài thể thao phong trào ngày càng tăng. Kiến thức chuyên môn về giải phẫu, sinh lý học thể thao là lợi thế cạnh tranh so với lao động phổ thông. Tuy nhiên, khó khăn cũng không ít. Lịch học và lịch tập luyện dày đặc khiến thời gian làm thêm bị hạn chế. Một số công việc thể thao yêu cầu chứng chỉ hành nghề mà sinh viên chưa đáp ứng được. Thu nhập từ việc làm thêm thường không ổn định, đặc biệt trong mùa thi cử. Ngoài ra, nhiều sinh viên chưa có kỹ năng tìm việc và đàm phán lương, dẫn đến bị thiệt thòi khi thương lượng với nhà tuyển dụng.

2.2. Thị trường việc làm thêm cho sinh viên tại khu vực Thái Nguyên

Thị trường việc làm thêm cho sinh viên GDTC tại thành phố Thái Nguyên khá phong phú nhưng chưa được khai thác hết tiềm năng. Các phòng tập gym, câu lạc bộ thể thao, trường học mầm non và tiểu học thường tuyển dụng huấn luyện viên part-time. Mùa hè là thời điểm nhu cầu dạy bơi, dạy võ và các lớp năng khiếu thể thao tăng cao. Khu vực trong bán kính 10km quanh Trường Đại học Sư phạm tập trung nhiều cơ sở thể thao và dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, mức lương trung bình cho sinh viên làm thêm dao động từ 20.000 – 50.000 đồng/giờ, chưa thực sự hấp dẫn. Thông tin tuyển dụng phân tán, thiếu hệ thống kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp. Việc xây dựng sàn giao dịch việc làm thêm chuyên biệt cho sinh viên GDTC là giải pháp cần thiết.

III. Biện pháp lựa chọn việc làm thêm theo định hướng nghề nghiệp GDTC

Để lựa chọn việc làm thêm hiệu quả, sinh viên ngành GDTC cần áp dụng các biện pháp có hệ thống gắn liền với định hướng nghề nghiệp. Thứ nhất, xác định mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng ngay từ năm thứ nhất để lựa chọn công việc làm thêm phù hợp. Thứ hai, xây dựng bản đồ kỹ năng cá nhân, so sánh giữa năng lực hiện có và yêu cầu của thị trường lao động thể thao. Thứ ba, tham gia các buổi tư vấn hướng nghiệp do khoa và nhà trường tổ chức. Thứ tư, tận dụng mạng lưới cựu sinh viên và giảng viên để tiếp cận cơ hội việc làm chất lượng. Thứ năm, ưu tiên các công việc có liên quan đến chuyên môn GDTC như trợ giảng thể dục, hỗ trợ huấn luyện viên, tổ chức sự kiện thể thao. Nhà trường cần đóng vai trò cầu nối giữa sinh viên và nhà tuyển dụng thông qua hệ thống thông tin việc làm được cập nhật thường xuyên.

3.1. Biện pháp tư vấn hỗ trợ từ phía nhà trường

Nhà trường đóng vai trò trung tâm trong việc tư vấn hỗ trợ sinh viên lựa chọn việc làm thêm phù hợp. Các biện pháp cụ thể bao gồm: tổ chức các buổi tọa đàm về nghề nghiệp thể thao với sự tham gia của chuyên gia, cựu sinh viên thành đạt; xây dựng hệ thống thông tin việc làm trực tuyến chuyên biệt cho sinh viên GDTC; lồng ghép nội dung tư vấn hướng nghiệp vào các giờ học chuyên ngành và sinh hoạt lớp; thành lập câu lạc bộ kỹ năng nghề nghiệp thể thao; phối hợp với các đơn vị Đoàn – Hội tổ chức ngày hội việc làm. Giảng viên cố vấn học tập cần theo dõi sát tình hình làm thêm của sinh viên, kịp thời phát hiện và can thiệp khi sinh viên chọn việc không phù hợp. Biện pháp này có thể vận dụng lồng ghép trực tiếp vào hoạt động đoàn, hội sinh viên.

3.2. Biện pháp tự định hướng và phát triển kỹ năng của sinh viên

Bản thân sinh viên GDTC cần chủ động trong việc định hướng lựa chọn việc làm thêm. Đầu tiên, sinh viên cần đánh giá năng lực bản thân một cách trung thực, xác định thế mạnh về kỹ năng thể thao, giao tiếp và quản lý thời gian. Tiếp theo, các em nên xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể, đảm bảo cân bằng giữa học tập và lao động. Việc trau dồi thêm chứng chỉ chuyên môn như huấn luyện viên thể hình, cứu hộ bơi lội, sơ cấp cứu thể thao sẽ mở rộng cơ hội việc làm. Sinh viên cũng cần rèn luyện kỹ năng mềm như thuyết trình, đàm phán, làm việc nhóm. Thực tập tại các cơ sở thể thao từ sớm giúp tích lũy kinh nghiệm và xây dựng mối quan hệ nghề nghiệp. Cuối cùng, sinh viên nên thường xuyên cập nhật thông tin thị trường lao động thể thao để điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng biện pháp lựa chọn việc làm thêm cho sinh viên

Nghiên cứu về biện pháp lựa chọn việc làm thêm theo định hướng nghề nghiệp cho sinh viên ngành GDTC tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên cho thấy tính cấp thiết của vấn đề. Việc làm thêm không chỉ giúp sinh viên có thu nhập mà còn là cơ hội quý báu để tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp, phát triển kỹ năng chuyên môn và mở rộng mạng lưới quan hệ trong ngành thể thao. Các biện pháp đề xuất bao gồm tư vấn hỗ trợ từ nhà trường và tự định hướng của sinh viên cần được triển khai đồng bộ. Nhà trường nên xây dựng cơ chế kết nối với doanh nghiệp thể thao địa phương, tạo kênh thông tin việc làm minh bạch. Sinh viên cần chủ động xác định mục tiêu nghề nghiệp và ưu tiên các công việc liên quan đến chuyên ngành. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các cơ sở đào tạo GDTC khác trên toàn quốc, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của biện pháp đề xuất

Biện pháp lựa chọn việc làm thêm theo định hướng nghề nghiệp mang ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn. Về mặt khoa học, nghiên cứu bổ sung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa việc làm thêm và phát triển nghề nghiệp cho sinh viên GDTC, đóng góp vào kho tàng tri thức giáo dục đại học Việt Nam. Về thực tiễn, các biện pháp đề xuất có tính ứng dụng cao, dễ dàng triển khai tại các trường đại học có đào tạo ngành GDTC. Kết quả nghiên cứu giúp nhà quản lý giáo dục hiểu rõ hơn về nhu cầu và khó khăn của sinh viên, từ đó điều chỉnh chương trình đào tạo sát với thực tế thị trường lao động. Mô hình tư vấn hỗ trợ có thể nhân rộng sang các ngành đào tạo khác trong hệ thống giáo dục đại học.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra. Đối với nhà trường, cần đưa nội dung tư vấn hướng nghiệp việc làm thêm vào chương trình đào tạo chính thức, không chỉ dừng ở hoạt động ngoại khóa. Đối với sinh viên, cần thay đổi nhận thức về giá trị của việc làm thêm gắn liền với chuyên môn thay vì chỉ tập trung vào thu nhập ngắn hạn. Về hướng nghiên cứu tiếp theo, cần mở rộng phạm vi khảo sát sang nhiều trường đại học khác để so sánh và đối chiếu. Nghiên cứu sâu hơn về tác động của việc làm thêm đến kết quả học tập và tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp cũng cần được thực hiện. Xây dựng ứng dụng di động kết nối việc làm thêm cho sinh viên GDTC là hướng đi tiềm năng trong thời đại chuyển đổi số.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ biện pháp lựa chọn việc làm thêm theo định hướng nghề nghiệp cho sinh viên ngành giáo dục thể chất trường đại học sư phạm đại học thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về học chế tín chỉ 1. Khái niệm về tín chỉ Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhất mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học.

Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mĩ gốc Trung quốc James Quann thuộc Đại học Washington. Trong buổi truyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm; thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài. Đối với các môn học lý thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần [14]. Tín chỉ theo định nghĩa nói trên gắn với học kỳ 4 tháng được sử dụng phổ biến nhất ở Mỹ.

Ngoài ra còn có định nghĩa tương tự cho tín chỉ theo học kỳ 10 tuần được sử dụng ở một số ít trường đại học. Tỷ lệ khối lượng lao động học tập của hai loại tín chỉ này là 3/2. Để đạt bằng cử nhân sinh viên thường phải tích luỹ đủ 120 - 136 tín chỉ (Hoa Kỳ), 120 - 135 tín chỉ (Nhật Bản), 120 - 150 tín chỉ (Thái Lan), v. Để đạt bằng thạc sĩ sinh viên phải tích luỹ 30 - 36 tín chỉ (Mỹ), 30 tín chỉ (Nhật Bản), 36 tín chỉ (Thái Lan).

6 Theo ECTS của EU người ta quy ước khối lượng lao động học tập ước chừng của một sinh viên chính quy trung bình trong một năm học được tính bằng 60 tín chỉ. Tại Việt Nam, một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường.

Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ. Một tiết học được tính bằng 50 phút [2]. Những ưu điểm của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Phương thức đào tạo theo tín chỉ lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng, được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình.

Người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy và do đó phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao động ngoài xã hội. Mọi phương thức đào tạo đều lấy quá trình dạy – học làm trọng tâm. Tuy nhiên, trong phương thức đào tạo truyền thống, vai trò của người dạy được coi trọng (lấy người dạy làm trung tâm).

Ngược lại, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, vai trò của người học được đặc biệt coi trọng (lấy người học làm trung tâm). Đường hướng lấy người học làm trung tâm được quán triệt từ khâu thiết kế chương trình, biên soạn nội dung giảng dạy, lựa chọn hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương pháp giảng dạy. 7 Phương thức đào tạo theo tín chỉ có độ mềm dẻo và linh hoạt về môn học. Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành.

Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể tham khảo giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình. Mặt khác, học chế tín chỉ cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu. Các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên. Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi.

Về phương diện này có thể nói học chế tín chỉ là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại học mang tính đại chúng. Phương thức đào tạo theo tín chỉ có độ mềm dẻo và linh hoạt về thời gian ra trường. Sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thời lực, tài lực, sức khỏe, v. Phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ tạo được sự liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau của cùng một trường đại học hay xa hơn nữa là giữa các cơ sở đào tạo đại học giữa quốc gia này với các quốc gia khác trên thế giới.

Khi sự liên thông được mở rộng, nhiều trường đại học công nhận chất lượng đào tạo của nhau, người học có thể dễ dàng di 8 chuyển từ trường đại học này sang học ở trường đại học kia (kể cả trong và ngoài nước) mà không gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ. Kết quả là, áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự di chuyển của sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng độ minh bạch của hệ thống giáo dục và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống giáo dục đại học trên thế giới được dễ dàng hơn. Phương thức đào tạo theo tín chỉ đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo. Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộc phải quay lại học từ đầu.

Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế. Phương thức đào tạo theo tín chỉ vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên. Phương thức đào tạo theo tín chỉ có lợi không những cho tính toán ngân sách chi tiêu nội bộ của nhà trường mà còn cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ khác. Phương thức đào tạo theo tín chỉ là cơ sở để báo cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ quan cấp trên và các đơn vị liên quan: một khi thước đo giờ tín chỉ được phát triển và kiện toàn, việc sử dụng nó như là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lý hành chính sẽ hữu hiệu hơn.

Một số vấn đề liên quan đến vấn đề việc làm 1. Khái niệm việc làm Theo Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 (điều 9); Luật Việc làm số 38/2013/QH13 đều khẳng định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” và Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả 9 năng lao động đều có cơ hội có việc làm [10], [11]. Luật Việc làm còn phân biệt khái niệm “việc làm” với khái niệm “việc làm công”, theo đó “việc làm công là việc làm tạm thời có trả công được tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn” [11]. Theo ngành Xã hội nhân chủng học: Việc làm không chỉ bao hàm cái gì được làm, được làm như thế nào và ai làm mà còn hàm ý việc làm đó được đánh giá như thế nào và ai đánh giá nó.

Vì thế việc làm bao hàm ý nghĩa vật chất, xã hội, văn hóa và tâm lí cá nhân. Đứng dưới mỗi góc độ khác nhau có những cách hiểu khác nhau về việc làm. Nếu xem xét dưới góc độ kinh tế - xã hội và góc độ pháp lí thì ta có thể tóm tắt khái niệm việc làm như sau: Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động (NLĐ) được xã hội thừa nhận. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm.

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân. Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ