Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc giữ vị trí thiết yếu trong chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII. Di sản văn hóa là sản phẩm kết tinh trí tuệ, phản ánh lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh và gắn kết cộng đồng. Trong hệ thống di tích lịch sử - văn hóa của cả nước, chùa Phật Tích (xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) giữ vị thế đặc biệt khi gắn liền với trung tâm Phật giáo Dâu - Luy Lâu từ đầu Công nguyên và là đại danh lam phát triển rực rỡ dưới thời nhà Lý.

Trước bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, giao lưu quốc tế và sự phát triển của kinh tế thị trường, di sản văn hóa chùa Phật Tích đứng trước nhiều cơ hội khai thác phát triển du lịch nhưng cũng đối mặt với nguy cơ mai một, xuống cấp và biến dạng giá trị nguyên gốc. Việc đánh giá khoa học về thực trạng quản lý, trùng tu và phát huy giá trị di tích là yêu cầu cấp thiết. Từ thực tiễn đó, tác giả thực hiện đề tài "Bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh hiện nay".

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các giá trị di sản văn hóa chùa Phật Tích; khảo sát thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương; từ đó đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Vận dụng quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước để làm rõ vai trò của hoạt động bảo tồn di sản văn hóa đối với đời sống nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích thông qua các thành tựu, hạn chế và phân tích nguyên nhân của thực trạng đó.
    3. Đề xuất các định hướng và giải pháp khả thi nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản, cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ việc hoàn thiện chính sách quản lý văn hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi không gian: Không gian di sản văn hóa tỉnh Bắc Ninh, tập trung chuyên sâu vào quần thể di tích chùa Phật Tích thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình công tác bảo tồn từ mốc tái lập tỉnh Bắc Ninh (năm 1997) đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên hệ thống cơ sở lý luận của chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Khái niệm văn hóa theo các nhà nghiên cứu Edward Sapir, Ralph Linton, William Isaac Thomas, Trần Ngọc Thêm và định nghĩa chính thức của UNESCO (2002), Từ điển tiếng Việt.
    • Khái niệm di sản văn hóa theo Điều 1 Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
    • Phân loại phương thức bảo tồn: Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn tĩnh) nhằm giữ nguyên trạng vị trí, kích thước, chất liệu, hình dáng thông qua kỹ thuật đo vẽ, công nghệ 3D, số hóa; và Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn động) nhằm gìn giữ, phục hồi và thực hành các giá trị di sản ngay trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng chủ thể.
    • Văn bản chỉ đạo mang tính nền tảng: Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc bảo tồn cổ tích; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Chương trình số 17-CTr/TU của Tỉnh ủy Bắc Ninh.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp logic và lịch sử.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
    • Phương pháp điều tra xã hội học và điền dã thực tế tại di tích.
    • Phương pháp so sánh, đối chiếu dữ liệu văn bản và hiện trường.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ khoa học xếp hạng di tích của Ban Quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh.
    • Các công trình nghiên cứu lịch sử - văn hóa Kinh Bắc của Trần Đình Luyện, Lê Viết Nga, Nguyễn Đức Thìn, Chu Quang Trứ, Đặng Văn Bài, Phan Huy Lê.
    • Số liệu thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết ngành văn hóa của UBND huyện Tiên Du, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và Báo Bắc Ninh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm văn hóa, di sản văn hóa, bảo tồn tĩnh và bảo tồn động. Phần thực tiễn phác thảo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tiên Du và lịch sử, kiến trúc, hiện vật, lễ hội của chùa Phật Tích.

Chỉ tiêu / Yếu tố thực tiễn Dữ liệu ghi nhận trong văn bản
Diện tích tự nhiên huyện Tiên Du 10.838,94 ha (khi chưa điều chỉnh địa giới); trên 9.500 ha (giai đoạn sau).
Đơn vị hành chính 14 đơn vị (1 thị trấn Lim và 13 xã).
Tăng trưởng GRDP huyện (năm 2017) Tăng 11,9% (Công nghiệp - Xây dựng: 68,7%; Dịch vụ: 25,8%; Nông nghiệp: 5,5%).
Hạ tầng giao thông kết nối Quốc lộ 1A, 1B, 38; Tỉnh lộ 276, 287, 295; tuyến đường sắt Lạng Sơn.
Xếp hạng di tích chùa Phật Tích Di tích cấp quốc gia (QĐ 313/VH-VP năm 1962); Di tích quốc gia đặc biệt (QĐ 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014).

Về lịch sử hình thành, chùa Phật Tích (Vạn Phúc Tự) gắn với sự tích nhà sư Ấn Độ Khâu Đà La lập am tu hành vào thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Đến năm Đinh Dậu (1057), niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ IV, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng chùa quy mô lớn, dựng tháp cao ngàn trượng, tạo pho tượng vàng cao 6 thước, cấp hơn trăm thửa ruộng và dựng chùa trăm gian. Năm 1071, vua Lý Thánh Tông về thăm chùa và ngự bút viết chữ "Phật" dài 6 thước (khoảng 2,4 m) khắc vào đá. Thời Trần, chùa có cung Bảo Hòa - nơi Thượng hoàng Trần Nghệ Tông soạn Báo Hòa dư bút (1383) và tổ chức thi Thái học sinh (1384). Thời Lê - Trịnh (1623–1657), Đệ nhất cung tần Trần Thị Ngọc Am hưng công tôn tạo. Năm 1948, chùa bị phá hủy hoàn toàn trong chiến tranh; đến năm 1958, Bộ Văn hóa cho dựng lại 3 gian chùa nhỏ để bảo quản hiện vật.

Về cấu trúc không gian và hiện vật, chùa tọa lạc trên sườn núi với 3 tầng nền kè đá tảng:

  • Tầng nền thứ nhất: Có giếng đá tròn dưới gốc đa cổ thụ và lối dẫn lên gác chuông (tam quan) dài 13 m, rộng 11 m.
  • Tầng nền thứ hai: Rộng khoảng 70 m, dài 30 m, kè đá cao 5 m; dấu tích kiến trúc "nội Công ngoại Quốc" gồm 11 gian tiền đường, 3 gian thiêu hương, 5 gian thượng điện, 9 gian hậu cung, 2 dãy hành lang mỗi bên 7 gian; bên phải có miếu Tiên chúa và tháp Linh Quang (1699); bên trái có nhà phương trường và nhà tổ; lưu giữ nửa tấm bia Vạn Phúc đại thiền tự bi (1686).
  • Tầng nền thứ ba: Có Ao Rồng (Long Trì) dài 7 m, rộng 5 m, sâu 2,2 m với thềm đá bán nguyệt chạm rồng và sóng nước thời Lý; vườn tháp gồm 32 ngọn tháp đá và gạch nung (tháp Phổ Quang năm 1664 cao 4 tầng chạm 7 tượng Phật, tháp Viên Dung năm 1679, tháp Hiển Quang năm 1680, tháp Viên Quang năm 1684, tháp Bảo Nghiêm năm 1692 cao 4 tầng...).

Các hiện vật điêu khắc tiêu biểu gồm:

  • Tượng Phật A Di Đà bằng đá thời Lý: Mình tượng cao 1,87 m, tổng thể cao 2,69 m ngự trên tòa sen chạm khắc rồng và hoa văn tinh xảo, thể hiện sự kết hợp giữa nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ với nét đẹp bản địa và tín ngưỡng thờ Nữ thần.
  • Mười pho tượng linh thú đá thời Lý gồm 5 cặp (sư tử, voi, trâu, tê giác, ngựa) tạc nguyên khối (trừ tượng trâu) quỳ trên bệ đá sen trước tòa Tam bảo.
  • Pho tượng táng (nhục thân) Thiền sư Chuyết Chuyết (Lý Thiên Tộ, 1590–1644) được bó cốt bằng sơn ta, vải, mạt cưa; phục hồi năm 1993 với chiều cao 67,3 cm, trọng lượng 10 kg.
  • Tượng Hộ pháp, tượng Người chim (Kinnari) và chân tảng đá chạm dàn nhạc gồm 10 nhạc công biểu diễn nhạc cụ cổ truyền (trống cơm, đàn tranh, đàn tỳ bà, sáo, tiêu...).

Lễ hội chùa Phật Tích (Hội Khán hoa mẫu đơn) diễn ra từ ngày mùng 4 đến mùng 5 tháng Giêng âm lịch, gắn liền với truyền thuyết Từ Thức gặp tiên Giáng Hương, bao gồm phần lễ dâng hương, cầu quốc thái dân an và phần hội với các hoạt động văn hóa dân gian.

Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích

Chương 2 phân tích toàn diện hai mặt thành tựu và hạn chế trong công tác quản lý di sản tại chùa Phật Tích giai đoạn từ năm 1997 đến 2019.

Phương diện quản lý Thành tựu đạt được Hạn chế còn tồn tại
Bộ máy và quy chế Phân cấp quản lý rõ ràng giữa Sở VH-TT&DL Bắc Ninh, Ban Quản lý Di tích tỉnh, UBND huyện Tiên Du và xã Phật Tích; lưu trữ hồ sơ, hiện vật an toàn. Ban Quản lý di tích cấp xã hoạt động kiêm nhiệm, thành viên chủ yếu dựa vào nhiệt tình, thiếu đào tạo chuyên môn sâu.
Tu bổ, tôn tạo Phục dựng, mở rộng khuôn viên chùa lên quy mô 22 gian; gia cố vườn tháp, Ao Rồng, đường lên 50 bậc đá; duy trì tuổi thọ công trình. Cán bộ thiếu chuyên môn và ngoại ngữ; nguy cơ thương mại hóa khi việc khai thác du lịch lấn át bảo tồn nguyên gốc.
An ninh và Lễ hội Phối hợp công an, dân quân tự vệ bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ; hạn chế các tệ nạn mê tín dị đoan lớn. Tình trạng đốt nhiều vàng mã, cài tiền vào tượng phật; hiện tượng ăn xin, xem bói, chèo kéo khách, bán hàng lấn chiếm lối đi.
Phát triển du lịch Quảng bá bằng tờ rơi, pano, kết nối tuyến điểm du lịch Kinh Bắc; tổ chức dịch vụ trông giữ xe, đồ lưu niệm. Quy hoạch bãi đỗ xe, vệ sinh môi trường chưa đồng bộ; nhận thức bảo vệ di sản của một bộ phận du khách chưa cao.

Nguyên nhân của thành tựu bắt nguồn từ sự chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh, sự hỗ trợ từ các viện nghiên cứu chuyên ngành (Viện Khoa học, Viện Văn hóa Dân gian, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và sự tham gia đóng góp nguồn lực xã hội hóa của nhân dân. Ngược lại, nguyên nhân hạn chế xuất phát từ tác động của thời tiết, áp lực đô thị hóa, mặt trái kinh tế thị trường, kinh phí đầu tư chưa tương xứng, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành luật ở cấp cơ sở chưa hoàn thiện và công tác tuyên truyền chưa diễn ra liên tục.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích

Chương 3 xác định mục tiêu bảo tồn trên cơ sở vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước:

  • Định hướng chung: Thực hiện nhất quán các nhiệm vụ trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, di sản văn hóa là tài sản vô giá kết nối cộng đồng; kế thừa tinh thần Sắc lệnh 65/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kết hợp hài hòa giữa bảo tồn nguyên trạng di tích gốc (bảo tồn tĩnh) với phát huy giá trị di sản trong sinh hoạt cộng đồng và giáo dục truyền thống (bảo tồn động).
  • Nhóm giải pháp chủ yếu:
    1. Nâng cao nhận thức và năng lực bộ máy quản lý: Đẩy mạnh tuyên truyền Luật Di sản văn hóa; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức bảo tồn và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ văn hóa từ huyện đến xã; kiện toàn mô hình Ban Quản lý di tích cơ sở.
    2. Quy hoạch không gian và đầu tư khoa học kỹ thuật: Xây dựng quy hoạch tổng thể khu di tích chùa Phật Tích; ứng dụng kỹ thuật hiện đại trong việc đo đạc, lập hồ sơ hiện vật đá, chống thấm dột và bảo quản hệ thống 32 bảo tháp; phân khu dịch vụ, bãi đỗ xe và khu vệ sinh khoa học.
    3. Tăng cường nguồn lực tài chính: Kết hợp ngân sách nhà nước thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa với huy động các nguồn lực xã hội hóa hợp pháp; bảo đảm tính minh bạch trong quản lý tiền công đức và tài trợ.
    4. Quản lý tổ chức lễ hội và hoạt động du lịch bền vững: Duy trì nếp sống văn minh tại lễ hội Khán hoa mẫu đơn; kiểm soát chặt chẽ dịch vụ thương mại, xử lý dứt điểm nạn chèo kéo, cờ bạc trá hình và đốt vàng mã tràn lan; xây dựng tour tuyến du lịch văn hóa tâm linh gắn kết chùa Phật Tích với các di tích tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa lịch sử 1.000 năm của chùa Phật Tích từ khởi nguồn thế kỷ II qua thời Lý (1057), thời Trần, thời Lê - Trịnh đến nay. Tác giả tổng hợp chi tiết các thông số kiến trúc (3 cấp nền đá, 22 gian chùa phục dựng, Ao Rồng dài 7 m, rộng 5 m, sâu 2,2 m) và hệ thống cổ vật thời Lý (tượng A Di Đà cao 2,69 m, 10 tượng linh thú đá, vườn tháp 32 ngọn, tượng nhục thân Thiền sư Chuyết Chuyết). Đồng thời, công trình phản ánh khách quan thực trạng quản lý giai đoạn 1997–2019 với đầy đủ số liệu kinh tế - xã hội địa phương.
  • Giải pháp đề xuất: Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ: kiện toàn nhân sự quản lý cơ sở, quy hoạch không gian bảo tồn kỹ thuật cao, đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa, và chuẩn hóa quy trình tổ chức lễ hội gắn với du lịch bền vững.
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt về công tác bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, bổ sung nguồn tư liệu thực chứng cho công tác nghiên cứu di sản văn hóa vùng Kinh Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học, phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong mốc thời gian từ 1997 đến 2019 tại địa bàn xã Phật Tích; việc thu thập số liệu chủ yếu dựa trên các báo cáo hành chính sẵn có và quan sát điền dã cá nhân, chưa tiến hành điều tra bảng hỏi xã hội học diện rộng đối với du khách thập phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá sâu hơn về tác động kinh tế - xã hội của du lịch tâm linh đối với sinh kế cộng đồng dân cư địa phương.
    • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thực tế ảo và số hóa 3D chi tiết cho hệ thống điêu khắc đá thời Lý tại chùa Phật Tích.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên các ngành Giáo dục Chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Quản lý văn hóa, Lịch sử, Việt Nam học cần tư liệu thực tiễn về chính sách văn hóa và bảo tồn di tích.
  • Cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện, xã tại tỉnh Bắc Ninh tham khảo các giải pháp tổ chức lễ hội và phân cấp quản lý di tích.
  • Các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ quan tâm đến nghệ thuật điêu khắc đá thời Lý và kiến trúc chùa tháp truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Chùa Phật Tích được xây dựng quy mô lớn vào thời điểm nào và có những dấu mốc lịch sử nào quan trọng?
Chùa được khởi dựng quy mô lớn vào năm Đinh Dậu (1057), niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ IV đời vua Lý Thánh Tông với tháp cao ngàn trượng và tượng Phật thếp vàng. Năm 1071, vua Lý Thánh Tông về thăm chùa và khắc chữ "Phật" dài 6 thước vào núi Tiên Du. Năm 1383–1384 thời Trần, cung Bảo Hòa tại chùa là nơi biên soạn Báo Hòa dư bút và tổ chức thi Thái học sinh. Chùa được tu bổ lớn thời Lê - Trịnh (1623–1657), bị phá hủy năm 1948 và được phục dựng lại từng bước từ năm 1958.

2. Pho tượng Phật A Di Đà và hàng tượng linh thú tại chùa Phật Tích có đặc điểm gì nổi bật?
Tượng Phật A Di Đà bằng đá thời Lý có niên đại gần 1.000 năm, phần mình tượng cao 1,87 m, tổng thể cả bệ cao 2,69 m ngự trên tòa sen chạm khắc rồng mềm mại không vảy, mang phong cách giao thoa giữa Phật giáo Ấn Độ và nét đẹp nữ tính của văn hóa bản địa. Hàng tượng linh thú gồm 5 cặp (sư tử, voi, trâu, tê giác, ngựa) tạc bằng đá nguyên khối (trừ tượng trâu) đặt trên bệ sen quỳ trước tòa Tam bảo, là bộ tượng thú quy mô lớn và lâu đời nhất của mỹ thuật cổ Việt Nam.

3. Tượng Thiền sư Chuyết Chuyết tại chùa Phật Tích có giá trị độc đáo như thế nào?
Đây là pho tượng táng (nhục thân) của Thiền sư Lý Thiên Tộ (1590–1644), thuộc thế hệ thứ 34 dòng thiền Lâm Tế. Tượng được tạo tác bằng phương pháp bó cốt, phủ hợp chất sơn ta, vải và mạt cưa quanh khung xương ngồi thiền của thiền sư. Pho tượng được phục hồi năm 1993 với chiều cao 67,3 cm, trọng lượng 10 kg, là một trong ba pho tượng táng hiếm hoi tại Việt Nam.

4. Lễ hội truyền thống chùa Phật Tích có tên gọi là gì và diễn ra vào thời gian nào?
Lễ hội có tên gọi là Lễ hội Khán hoa mẫu đơn (lễ hội xem hoa), diễn ra từ ngày mùng 4 đến mùng 5 tháng Giêng âm lịch hằng năm (chính hội là ngày mùng 4). Lễ hội gắn liền với tích chuyện tình dân gian giữa chàng Từ Thức và nàng tiên Giáng Hương tại vườn hoa mẫu đơn của chùa.

5. Những bất cập chính trong công tác quản lý và bảo tồn tại chùa Phật Tích được chỉ ra là gì?
Các hạn chế gồm: Đội ngũ cán bộ quản lý di tích cấp xã thiếu chuyên môn chuyên sâu; quy hoạch bãi đỗ xe, hàng quán dịch vụ chưa hợp lý; tình trạng thương mại hóa, đốt nhiều vàng mã, nhét tiền vào tượng, bán hàng chèo kéo và xem bói còn diễn ra lẻ tẻ trong mùa lễ hội; nguy cơ mất cân đối giữa khai thác du lịch và giữ gìn yếu tố gốc của di tích.


Kết luận

Khóa luận đã làm rõ toàn diện cơ sở lý luận, giá trị lịch sử - kiến trúc - nghệ thuật đặc sắc của di sản văn hóa chùa Phật Tích huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trên cơ sở phân tích khách quan thực trạng quản lý và bảo tồn giai đoạn 1997–2019, công trình chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như các bất cập, hạn chế còn tồn tại ở cấp cơ sở. Hệ thống định hướng và giải pháp do tác giả đề xuất bám sát đường lối văn hóa của Đảng, mang tính khả thi cao nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn nguyên gốc di sản và khai thác phát triển kinh tế - du lịch tại địa phương.