phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Khóa luận bao gồm 3 chương và 6 tiết. 8 c CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH 1. Cơ sở lý luận * Một số khái niệm cơ bản * Văn hóa: “Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện”.
Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Theo cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra những định nghĩa về văn hóa: Nhà ngôn ngữ học người Mỹ - Edward Sapir đã nhận định : “ văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”. Nhà xã hội học người Mỹ - William Isaac Thomas : “coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào”. Nhà nhân loại học người Mỹ - Ralph Linton, định nghĩa: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội”.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử".8] Năm 2004 trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản thì đưa ra những quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội”.9] 9 c UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa năm 2002, như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Tóm lại, văn hóa có thể định nghĩa như sau: “Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữ con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. * Di sản văn hóa “Khái niệm di sản văn hoá”, có thể xác định được một cách thuận lợi từ khái niệm về văn hoá.
Như ta đã biết, “văn hoá” có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhưng xu hướng định nghĩa “văn hoá” theo tính giá trị và tính đặc trưng cho cộng đồng chủ thể sáng tạo đang được nhiều người chấp nhận nhất. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm thì : “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình họat động thực tiễn”. Tính chất lưu truyền đã biến văn hoá của thế hệ trước trở thành di sản văn hoá của thế hệ sau.
Ngoài ra trong từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Di sản là cái của thời đại trước để lại”. Theo nghĩa Hán Việt: “di sản văn hóa là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những giá quý giá, có giá trị.
Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên”. Trong điều 1 Luật Di sản văn hóa của Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hóa của Việt Nam như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.17] “Văn hóa” là cái chung, “di sản văn hóa” là cái riêng. Mọi yếu tố của “di sản văn hóa” đều là “văn hóa”, nhưng không phải mọi yếu tố của văn hóa đều là “di sản văn hóa, vì trong văn hóa còn nhiều yếu tố bị mai một trong dòng chảy lịch sử, do không vượt qua đuợc thử thách của thời gian nên không được lưu truyền lại cho thế hệ sau thành di sản văn hóa, hoặc những yếu tố văn hóa mới được hình thành chưa 10 c được thẩm định của thời gian”. Như vậy, “di sản văn hoá” nói chung rất đa dạng, phong phú, bao gồm các yếu tố nhân văn (di tích lịch sử văn hoá, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán,…) nhưng cũng chứa đựng cả các yếu tố tự nhiên (rừng, núi, thác,…), “là tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau”.
* Bảo tồn di sản văn hóa “Khái niệm bảo tồn di sản văn hóa” được từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”. “Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có. Và làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”. Không những vậy đối tượng bảo tồn phải được nhìn là “tinh hoa”, và khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn.
Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể) cần thở mãn hai điều kiện: - Điều kiện thứ nhất là, “nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hoài nghi hay bàn cãi”. - Điều kiện hai là, “nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động”. Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”) Trước hết bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là: “áp dụng khoa học công nghệ hiện đại nhằm giữ nguyên trạng những hiện vật từ sự vốn có về, vị trí, kích thước, đường nét màu sắc, kiểu dáng. Trong quá trình phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình, video; để có thể xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể.
Để 11 c sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, ta phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết và không làm biến dạng những di sản văn hóa vật thể”. Ngoài ra để bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là “ta cần phải tiến hành khảo sát điều tra, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh…. Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng”. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”) Thứ hai “bảo tồn động” được coi là: “bảo tồn các giá trị văn hóa dựa trên những cơ sở kế thừa.
Bảo tồn di sản văn hóa dựa trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng các giá trị di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại đối với các di sản văn hóa phi vật thể”. Vì vậy bảo tồn “động” dựa trên cơ sở kế thừa tức là “bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng. Vì cộng đồng được coi là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể là nơi để giữ gìn, bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian”. Tóm lại bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể là: “mong muốn lí tưởng nhất, hoàn hảo nhất.
Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì cần phải bảo tồn theo hiện dạng đang tồn tại. Vì theo quy luật của thời gian thì các DSVH phi vật thể sẽ ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc”. Do vậy, nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất. Tuy nhiên, trong quá trình bảo tồn thì hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng.
Vì thế, “cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc di sản văn hóa”. Cơ sở thực tiễn 1. Khái quát về huyện Tiên Du * Vị trí địa lý 12 c Tỉnh Bắc Ninh có diện tích là 823 km2 trong đó tám đơn vị hành chính cấp huyện gồm: “một thành phố (Bắc Ninh), một thị xã (Từ Sơn) và sáu huyện (Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài)”. Cũng nằm trên địa bàn thuộc tỉnh Bắc Ninh - huyện Tiên Du là “huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm thành phố năm km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25km về phía Bắc.
Huyện Tiên Du nằm trong tọa độ địa lý khoảng từ 2005’30’’ đến 2111’00’’ độ vĩ Bắc và từ 10558’15’’ đến 10606’30’’ độ kinh Đông.